Hồ Chí Minh và bản Di chúc trường tồn cùng lịch sử

Chuẩn bị cho chuyến đi xa vĩnh viễn của cuộc đời, Người đã dành mỗi ngày khoảng từ một đến hai giờ của những ngày tháng 5 đẹp trời (từ năm 1965 đến năm 1969) để viết "Tài liệu tuyệt đối bí mật" gửi lại cho mai sau.

Giờ đây, mỗi khi lật giở lại những trang bản thảo, những bút tích chỉnh sửa, bổ sung của Người trong bản Di chúc thiêng liêng, dường như chúng ta vẫn thấy Người đang cẩn trọng, cân nhắc từng ý, từng việc, để cô đọng nhất những trăn trở, những điều cần phải dặn lại. Ðó là những vấn đề quan trọng, cần thiết đối với Ðảng ta, nhân dân ta, sự nghiệp cách mạng của chúng ta.

 Trong Di chúc, khát vọng và niềm tin tất thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, góp phần vào sự nghiệp hòa bình thế giới dồn nén chỉ trong mấy lời, và niềm tin đó không chỉ được nhắc một lần: "Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Ðó là một điều chắc

chắn" (1). Và dù phải hy sinh nhiều của, nhiều người, nhưng "Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất", "đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà". Theo Người, thắng lợi đó của dân tộc ta là vinh dự, vì "đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc".

Tiếp đó, với phép xử thế của một nhà văn hóa lớn, là biểu tượng kết tinh truyền thống lịch sử và văn hóa của dân tộc Việt Nam, Bác có ý định đến ngày đất nước hòa bình, thống nhất sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc chúc mừng đồng bào và chiến sĩ cả nước, và thay mặt nhân dân Việt Nam "đi thăm và cảm ơn" bè bạn quốc tế đã "tận tình ủng hộ và giúp đỡ" cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

Khẳng định nguồn sức mạnh làm nên sức mạnh của Ðảng chính là sự đoàn kết, thống nhất trong Ðảng, Người nhấn mạnh: "Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Ðảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình" (2); đồng thời, yêu cầu "trong Ðảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình". Theo Người, đó không chỉ là nhiệm vụ trọng yếu, là yêu cầu bức thiết của Ðảng cầm quyền trước mỗi bước chuyển của cách mạng, mà còn là cách tốt nhất để "củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Ðảng", để Ðảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh.

Cùng với những điều tâm huyết về Ðảng, Người nhắc đến việc chăm lo lực lượng kế cận của cách mạng; dành những dòng thiết tha cho thế hệ trẻ, khen ngợi đoàn viên, thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi, v.v. đã đóng góp công sức của mình trong sự nghiệp cách mạng. Người căn dặn: "Ðảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên". Theo Người, "bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết (3), bởi không chăm lo cho thế hệ trẻ, không tạo dựng một lực lượng kế tục có đức, có tài, sẽ không có những con người XHCN để xây dựng thành công CNXH và CNCS".

Tư tưởng và mục đích cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ con người và cuối cùng lại trở về với con người. Bởi vậy, như một lẽ tự nhiên, trong những lời để lại, Người đặc biệt quan tâm đến con người và những công việc đối với con người. Người chỉ rõ, khi đất nước đã trải qua những năm dài chiến tranh, việc hàn gắn những vết thương của thời hậu chiến là công việc rất nặng nề, phức tạp, nhưng cũng rất vẻ vang, Ðảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân lao động ở miền núi cũng như miền xuôi. Những lời dặn của Người về miễn thuế nông nghiệp một năm, để "đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất"; về xây dựng lại thành phố, làng mạc; về xây dựng những vườn hoa, bia tưởng niệm các liệt sĩ, "để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta", v.v. thật sự thiết thực, cụ thể, đầy tính nhân văn.

Hơn ai hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấu hiểu, động lực để thực hiện khát vọng Ðộc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam chính là nhân dân lao động. Lòng yêu nước, thương dân của Người trong Di chúc dành lại cho muôn đời con cháu mai sau thể hiện sự quan tâm của Người đến lợi ích của từng con người và lợi ích của cả cộng đồng. Ðó cũng chính là sự biểu đạt đặc sắc của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ của nhân dân Việt Nam, Người còn "là một nhà cách mạng trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản và đã đóng góp to lớn vào sự đoàn kết các nước xã hội chủ nghĩa, vào việc củng cố và phát triển phong trào cộng sản" (4). Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh không chỉ là một người cộng sản Việt Nam mẫu mực, Người còn là người chiến sĩ cộng sản quốc tế trong sáng, thủy chung, luôn quan tâm đến sự phát triển chung của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

 Trong Di chúc, khi viết về phong trào cộng sản quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hòa hiện nay giữa các đảng anh em" (5). Người chiến sĩ cộng sản quốc tế Hồ Chí Minh đã có những đóng góp tích cực cho phong trào cách mạng thế giới. Người đã từng nhiều lần cảnh báo sự không quan tâm đúng mức về mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa với phong trào cách mạng vô sản ở chính quốc tại các diễn đàn quốc tế. Với tinh thần quốc tế vô sản cao cả đó, "Bác Hồ cùng với bản Di chúc của Người là thuộc về tất cả phong trào cộng sản, công nhân và cách mạng trên thế giới. Người được liệt vào những bậc mà thân thế và sự nghiệp đã vượt ra ngoài phạm vi biên giới của Tổ quốc mình" (6).

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa 40 năm. Bản Di chúc lịch sử của Người gửi lại "tiếp tục là nguồn cảm hứng" cho hậu thế, "để không yếu đuối trong đấu tranh giành lấy tương lai, để không dừng lại ở điều đạt được mà luôn luôn tiến lên phía trước" (7).

TS. Văn Thị Thanh Mai 
(Bảo tàng Hồ Chí Minh)

--------------------

1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1996, t.12, tr.506.

2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.12, tr.510.

3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.12, tr.498.

4. Kim-hu-Giông: Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, UNESCO và UBKHXHVN, Nxb.KHXH, H.1990, tr.115.

5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.12, tr.511.

6. I-Liu Sít-lích, Báo Quyền lợi đỏ, Praha, Tiệp Khắc, ngày 9-9-1989.

7. Mi-ghen Ðê-xtê-pha-nô, Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, UNESCO và UBKHXHVN, Nxb.KHXH, H.1990, tr.54.

Có thể bạn quan tâm