Hiệu quả bước đầu của dự án Ba Lai

Ðây là một công trình khá đồ sộ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, gồm năm hạng mục chính. Ðến năm 2002, cống đập Ba Lai - hạng mục đầu tiên của dự án hoàn thành. Vậy mà cho đến nay vẫn dừng lại ở đó?

Ba năm trôi qua, một thời gian không dài, nhưng đủ để khẳng định cống đập Ba Lai đi vào vận hành mà không để lại một sai sót nhỏ, với ba tác dụng: Ngăn mặn, xổ phèn, xả úng. Năng suất cây trồng ở vùng này tăng lên. Như cây mía, từ phía trên xã Thạnh Trị lên các xã thượng nguồn sông Ba Lai phía huyện Bình Ðại, trước đây chỉ ở mức 40 - 50 tấn/ha, nay bình quân 70 tấn, cá biệt có hộ lên đến 90 tấn/ha, còn ở bên kia sông là các xã Tân Xuân, Tân Mỹ của Ba Tri, hay Châu Bình, Châu Hòa của Giồng Trôm thì một ha mía phổ biến là 80 - 100 tấn. Ngày xưa là hoang hóa, đất chỉ sử dụng được khoảng 40%, thường là một vụ lúa bấp bênh, nay năng suất chưa cao, nhưng đã bắt đầu có mặt cây ăn quả, không còn cây lức, cây bần (loại cây hoang ở vùng nước mặn).

Trước đây, ai về vùng này mới thấy hết gian nan do thiếu nước ngọt. Nay nhờ cống đập Ba Lai, mà mọc lên Nhà máy nước Tân Mỹ phục vụ bảy, tám xã của Ba Tri. Tư nhân cũng đua nhau về xây dựng nhà máy nước ở Lộc Thuận. Doanh nghiệp Trung Thành đang dựng lên nhà máy nước 120 m3/ngày đêm. Khi dự án hoàn thành thì sông Ba Lai sẽ là cái hồ nước ngọt, cứu cánh cho cả một vùng rộng lớn hơn 30 xã của các huyện: Ba Tri, Giồng Trôm và Bình Ðại, kể cả thị xã Bến Tre.

Nếu lấy tiêu chí cũ, hộ nghèo vùng này giảm rất mạnh. Ðiển hình như ở Thạnh Trị, số hộ nghèo năm 2003 hơn 14%, nay chỉ còn dưới 5%. Phú Long cũng vậy, chỉ sau hai năm số hộ nghèo đã giảm hơn một nửa. Lộc Thuận giảm gần ba lần. Còn ở Châu Bình của Giồng Trôm, là xã có nhiều hộ nghèo trong huyện, nhưng sau năm năm đã giảm hơn 10%, hiện còn dưới 4%. Kinh tế phát triển, đời sống khá lên, người dân háo hức làm đường đi cho sạch đẹp, thấp nhất cũng là đá đỏ, đá răm, đường liên xã, liên ấp đa phần là lát nhựa hoặc bê-tông. Cảnh lầy lội không còn nữa.

Về Bình Ðại, đi ngược từ Thạnh Trị lên Phú Vang, Lộc Thuận, Vang Qưới Ðông, Vang Quới Tây... chúng ta dễ phân biệt có ba vùng chạy dọc theo cù lao: Cập sông Tiền đến đường 883 là nước mặn thì nuôi tôm, cua. Vùng cập sông Ba Lai đến đê Tây, nước ngọt, đã có nhiều trang trại mọc lên nuôi cá sấu, ba ba, cá tra. Vùng từ đường 883 đến đê Tây, mà người dân ở đây gọi là vùng giữa hiện gặp nhiều khó khăn. Vào thời điểm này, đi vào "vùng giữa" vẫn còn mang rõ dấu vết trong ruộng mía đã chết gốc mà bà con vừa mới dặm lại.

Chị Nguyễn Thị Bé, một nông dân trồng mía ở đây cho biết, năng suất vẫn còn nằm ở khoảng 40 - 50 tấn/ha, bị chết gốc phải dặm lại một ha từ sáu đến tám tấn mía  hom, cộng thêm công dặm quy ra mía khoảng sáu tấn nữa. Như vậy, chỉ so với phía bên kia đê Tây - một khoảng cách chưa đầy 10 m mà bên này phải chịu mất hơn 30 tấn mía/ha. Làm một bài tính nhẩm với diện tích gần 900  ha mía, giá 300 nghìn đồng/tấn thì thua thiệt không dưới tám tỷ đồng/năm vì nguồn nước lợ. Nhìn rộng ra, vật nuôi, cây trồng khác nằm trên 7.000 ha đất nông nghiệp của cả vùng thì con số thua thiệt càng lớn hơn nhiều. Cho nên, những người dân vùng này chưa thấy tác dụng của cống đập Ba Lai và thậm chí có người cho rằng không có cống đập Ba Lai còn tốt hơn.

Rõ là lòng tin của người dân ở đây đang bị giảm về một công trình của Nhà nước. Nguy hại hơn, là mức thu nhập quá chênh lệch từ các vùng nước như vậy, mà nông dân không đủ sức để chờ công trình hoàn chỉnh, buộc phải "phá" quy hoạch chung. Hiện tại, đã có những ao dẫn nước mặn vào để nuôi tôm sú trong vùng trồng dừa và cây ăn quả theo hai bên đường 883, hình thành từng lõm, tuy không nhiều, nhưng đã gây khó cho những hộ chung quanh. Người dân đang phá quy hoạch, nhưng lại mong muốn Nhà nước tiếp tục thực hiện sớm các hạng mục trong dự án Ba Lai để chủ động ngăn mặn, dễ dàng cho việc làm ăn.

Tình trạng sạt lở hai bờ sông An Hóa không chỉ  không dừng lại, mà còn tiếp tục nghiêm trọng hơn, do cống đập Ba Lai đưa vào vận hành mà chưa có âu thuyền An Hóa, nên nước từ sông Bến Tre chảy qua kênh Chẹt Sậy đã làm cho sông An Hóa có dòng chảy xiết hơn. Nhìn hai bờ từng cục, từng cục đất lở xuống lòng sông, trụ cầu An Hóa phải gia cố hàng chục tỷ đồng, hơn 100 hộ dân đã và đang di dời khẩn cấp để bảo toàn tính mạng và tài sản.

Ðiều tréo ngoe ở hai xã Giao Hòa và An Hóa là không còn quỹ đất công, nay lại phải tìm nơi trú ngụ của dân mình. Càng lo hơn trong khu vực di dời này hiện có năm doanh nghiệp đóng tại địa bàn, thường xuyên giải quyết việc làm cho hơn 1.000 lao động, thậm chí vào vụ cao điểm có tới hơn 2.000 người ở tại xã và các vùng lân cận. Doanh nghiệp ngừng hoạt động hoặc thu nhỏ quy mô sản xuất thì số lượng lao động thất nghiệp tăng lên.

Trong chuyến làm việc ở Bến Tre 10-2005, Thứ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Diệp Kỉnh Tần cho biết, các hạng mục công trình trong dự án ngọt hóa bắc Bến Tre sẽ tiếp tục thực hiện từ năm 2006, cố gắng đến năm 2010 là hoàn thành.

Lật lại hồ sơ, thấy điểm đầu tiên để tiếp tục trong hai năm 2006-2007 là nạo vét thượng nguồn sông Ba Lai, kè chống xói lở bờ sông An Hóa, xây âu thuyền Giao Hòa. Từ năm 2007 sẽ bắt tay vào các hạng mục và xây dựng tiếp âu thuyền Bến Tre, xây dựng tuyến đê ven sông Cửa Ðại và công trình dưới đê, hệ thống thủy lợi nội đồng, kênh cấp II, cống tiếp nước Bến Rớ và Tân Phú và các công trình phụ trợ, nước sinh hoạt cho cả một vùng rộng  lớn của thị xã và các huyện Ba Tri, Bình Ðại, Giồng Trôm, Châu Thành.

Có thể bạn quan tâm