Tỷ lệ tổn thất còn lớn
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Với gần 80% dân số và hơn 73% lực lượng lao động của cả nước sinh sống bằng việc canh tác nông nghiệp tại vùng nông thôn thì thu nhập từ lúa, ngô đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống của người nông dân. Từ sau khi đổi mới nền kinh tế, nhờ áp dụng các loại giống mới, kỹ thuật canh tác mới... nên năng suất và sản lượng lúa ngày càng tăng (trung bình sản lượng lúa nước ta mỗi năm tăng thêm một triệu tấn). Nhờ đó, thu nhập của phần lớn nông dân đã được cải thiện. Tuy nhiên, tổn thất sau thu hoạch đối với sản xuất lương thực (chủ yếu là lúa và ngô) ở nước ta còn khá cao. Theo số liệu điều tra của Viện Công nghệ sau thu hoạch, năm 2003, tổn thất sau thu hoạch trung bình về số lượng trong sản xuất lúa ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long vào khoảng 12,7%, ở các khu vực còn lại khoảng 11,6% so với sản lượng. Trên thực tế, tổn thất này dao động rất lớn tùy theo từng khu vực và từng mùa vụ. Ðối với khu vực đồng bằng sông Hồng thì tổn thất sau thu hoạch của vụ đông xuân luôn cao hơn vụ mùa do những biến động thất thường của thời tiết. Trong khi đó, ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long do phải thu hoạch vụ lúa hè thu trong mùa mưa cho nên tổn thất sau thu hoạch do không được làm khô kịp thời có khi lên đến 15-20% sản lượng. Cùng với tổn thất về số lượng, những hạn chế về công nghệ sau thu hoạch cũng làm giảm đáng kể chất lượng và tỷ lệ thu hồi. Lúa sau khi thu hoạch không được làm khô kịp thời thường bị hấp hơi, mọc mầm làm cho gạo có nhiều hạt biến mầu, tỷ lệ tấm cao. Ngược lại, khi làm khô không đúng kỹ thuật, làm khô quá nhanh, ở nhiệt độ quá cao hạt lúa thường bị rạn nứt nên tỷ lệ tấm khi xay xát cũng rất cao...
Ðối với sản xuất ngô, tổn thất sau thu hoạch cũng rất lớn. Riêng tổn thất về số lượng đã dao động trong khoảng 18-19%, thậm chí 23-28% tùy theo vùng và mùa vụ thu hoạch. Ðối với ngô lai, tổn thất sau thu hoạch còn có thể cao hơn do những loại ngô này thường có hàm lượng prô-tê-in cao, vỏ mỏng nên rất dễ bị mốc. Hơn nữa, tổn thất về chất lượng của ngô trong quá trình bảo quản còn cao hơn nhiều. Thông thường, giá ngô giảm 10-20% sau khoảng ba, sáu tháng tồn trữ do bị nhiễm mọt, nấm mốc. Ðặc biệt, do bị nhiễm nấm mốc cho nên hầu như 100% lượng ngô sau bảo quản ở khu vực nông thôn đều bị nhiễm aflatoxin (một loại chất độc) ở các mức độ 10-100ppb.
Rõ ràng là tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất lương thực nói chung và sản xuất lúa, ngô nói riêng đã và đang gây thiệt hại không nhỏ đối với thu nhập của nông dân. Một chuyên gia trong ngành đã tính rằng, trong sản xuất lúa ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, mỗi 1% sản lượng bị tổn thất sau thu hoạch đã tương đương với bảy triệu USD.
Nguyên nhân chủ yếu và giải pháp khắc phục
Tổn thất trong khâu thu hoạch là 1,3-2,9% đối với lúa tùy theo khu vực và mùa vụ. Trong vụ đông xuân ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long do thời tiết khô, cho nên, tổn thất ở khâu này hầu như không đáng kể. Trong khi đó, vụ xuân ở khu vực đồng bằng sông Hồng và vụ hè thu ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long do phải thu hoạch trong mùa mưa, bão nên tổn thất cao, khoảng 3,5-4,0%. Nguyên nhân của tổn thất chủ yếu do lúa bị đổ, thu hoạch không đúng độ chín (thu hoạch chạy mưa, chạy bão, chạy lũ...) hoặc do thu hoạch khi lúa đã bị ngập nước vì lũ, lụt...
Ðể khắc phục tình trạng này, các cơ quan chức năng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã nghiên cứu và chuyển giao đến nông dân các giống lúa thấp, cứng cây, chống đổ, chịu úng ngập và có thời gian sinh trưởng ngắn vào sản xuất. Lựa chọn thời vụ thích hợp nhằm tránh những bất lợi của thời tiết trong khi thu hoạch; thử nghiệm và đưa một số mẫu máy thu hoạch lúa vào sản xuất, thay thế việc thu hoạch thủ công nhằm thu hoạch lúa trong thời gian thích hợp nhất.
Tổn thất trong khâu tách hạt là 1,4-2,3% đối với sản xuất lúa và 3-4% đối với ngô. Tổn thất chủ yếu là do lúa phải thu hoạch trong những ngày mưa, khi lúa bị đổ... lúa bị ướt nên bị cuốn ra ngoài theo rơm cũng như bị rơi, vãi trong quá trình vận chuyển đến máy tuốt. Ngoài ra hạt lúa bị vỡ, gãy do va đập cơ khí trong quá trình tuốt cũng là nguyên nhân dẫn đến tổn thất. Ðối với khâu tẽ hạt ngô, có đến 1,2% tổn thất là do hạt còn sót lại trên bắp sau khi tẽ hạt và 2,5% tổn thất do hạt bị vỡ trong quá trình tách hạt.
Nhằm hạn chế tổn thất trong công đoạn này, nông dân cần được trang bị các loại máy tách hạt phù hợp, có tỷ lệ hạt gãy, vỡ do va đập cơ khí ở mức thấp nhất; không tuốt lúa, tẽ hạt ngô khi chúng còn quá ướt...
Tổn thất trong khâu phơi, sấy bình quân là 1,6-1,9% đối với lúa và vào khoảng 5% đối với ngô. Nhưng nếu tính cả những tổn thất về chất lượng thì đôi khi là rất lớn đối với một số khu vực trong các vụ thu hoạch khác nhau. Vụ lúa hè thu ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long có tổn thất ở khâu phơi sấy rất cao do thu hoạch trong điều kiện thời tiết mưa nhiều. Chưa có những số liệu chính xác về tổn thất trong khu vực này, nhưng phần lớn các số liệu đã công bố đều cho rằng tổn thất dao động trong khoảng 10-15%, thậm chí là 20% tùy theo từng địa phương. Nguyên nhân chủ yếu của tổn thất này là do rơi, vãi trong quá trình làm khô, mọc mầm hoặc nứt, gãy, vỡ hạt... nhưng tổn thất chủ yếu vẫn là quá trình làm khô không kịp thời, làm khô không đúng kỹ thuật dẫn đến hạt thóc, ngô bị mọc mầm, bị biến mầu, bị nứt gãy, bị nhiễm vi sinh vật... không đủ phẩm chất để xay xát và sử dụng. Vì vậy, giải pháp hạn chế những tổn thất trong khâu này là trang bị các máy sấy phù hợp cho nông dân để làm khô lương thực, nông sản đúng kỹ thuật và kịp thời.
Tổn thất trong khâu bảo quản vào khoảng 2,6-2,9% trong sản xuất lúa và 10% đối với ngô, chủ yếu do bảo quản không đúng kỹ thuật, làm cho côn trùng, sâu, mọt... có điều kiện xâm nhập và gây hại; do sự tự bốc nóng của khối hạt... Ðây là một nguyên nhân được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm, nhưng sự tổn thất này ở nước ta lại ít được chú ý, do lượng lương thực hàng hóa được tồn trữ trong dân không lớn (tính theo quy mô mỗi gia đình). Vấn đề này cần được quan tâm, đề cập một cách nghiêm túc hơn.
Tổn thất trong quá trình xay xát, chế biến vào khoảng 2,2-3,3%. Ngoài những nguyên nhân về chất lượng hạt thóc không bảo đảm do các khâu công nghệ sau thu hoạch làm chưa tốt, thì tổn thất này còn do việc sử dụng các loại máy xát, máy chế biến không phù hợp; việc phân loại hạt trước khi xát, cũng như việc xay xát đúng độ ẩm chưa được coi trọng... Hầu như các công ty chế biến lương thực ở nước ta ít quan tâm sự tổn thất này, trong khi đây là nguyên nhân chủ yếu làm cho gạo của nước ta luôn có tỷ lệ thu hồi và phẩm cấp thấp, giá thành chế biến cao. Ðiều cần khuyến cáo là các đơn vị chế biến lương thực nên có công đoạn sấy nguyên liệu trước khi đưa vào chế biến để nâng cao tỷ lệ thu hồi cũng như phẩm cấp của sản phẩm.
Ngoài những giải pháp mang tính kỹ thuật nêu trên, để đạt mục tiêu đến năm 2010 tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch đối với lúa là 9-10% và đối với ngô là 10-11% (bằng tỷ lệ tổn thất của các nước tiên tiến khu vực Ðông - Nam Á), cần phải thực hiện các giải pháp tổng thể, đồng bộ. Ðó là, đẩy mạnh thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người, mọi tầng lớp xã hội nhận thức được tầm quan trọng của các hoạt động trong lĩnh vực công nghệ sau thu hoạch. Từ đó, huy động được ngày càng nhiều nguồn lực xã hội phục vụ công tác này. Tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất. Trong những trường hợp cần thiết, Nhà nước cần hỗ trợ một phần kinh phí để mua hoặc nhập các công nghệ tiên tiến của nước ngoài. Nhanh chóng xây dựng các khu liên hợp, các chợ đầu mối nông sản...; trong đó có các khu vực phân loại, làm khô, sơ chế, chế biến lương thực hiện đại làm dịch vụ hoặc thu mua nông sản cho nông dân, tạo điều kiện giảm thiểu tổn thất sau thu hoạch, cũng như giảm chi phí đầu tư của xã hội trong lĩnh vực này. Ðiều quan trọng hơn cả là phải xây dựng được chiến lược cũng như kế hoạch thực hiện cụ thể trong lĩnh vực giảm dần tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch đối với sản xuất lương thực nói riêng và nông sản nói chung, giúp cho nông dân giảm nhẹ được thiệt hại trong sản xuất, bảo quản và chế biến.