Hai "căn bệnh nan y" của cơ chế quản lý tập thể

Về mặt đạo đức, tất cả những gì có tác dụng chính thức tôn vinh vai trò của cá nhân đều bị coi là  biểu hiện của một nhân sinh quan tiêu cực, ích kỷ nhắm đến việc vun vén cho riêng một người, bất chấp lợi ích của mọi người. Cá nhân được đặt đối lập với tập thể, với đạo đức cách mạng, theo cùng một cung cách như sự đối lập giữa xấu và tốt.

Trong lĩnh vực quản lý nhà nước, việc hạn chế vai trò của cá nhân và đề cao vai trò tập thể đã dẫn đến sự hình thành và phát triển mô hình quản lý nhà nước kiểu tập thể. Trong mô hình đó, quyền quyết định tối hậu, về mặt lý thuyết, vẫn thuộc về người đứng đầu cơ quan nhà nước như dưới chế độ cá nhân lãnh đạo. Nhưng trước khi đi đến quyết định đó, người đứng đầu cơ quan nhà nước, theo đúng quy chế, phải tham khảo ý kiến của tập thể các thành viên của cơ quan hoặc tập thể cư dân thuộc địa bàn quản lý, hay ít nhất là tập thể cán bộ chủ chốt thuộc cơ quan, tập thể đại diện cư dân thuộc địa bàn.

Nguyên tắc dân chủ đòi hỏi rằng người đứng đầu các thiết chế công cộng, nếu không được bầu ra, thì phải được bổ nhiệm dựa trên kết quả bỏ phiếu tín nhiệm của các thành viên hoặc cư dân thuộc địa bàn quản lý. Tuy nhiên, dưới chế độ cá nhân lãnh đạo, một khi được bầu hoặc bổ nhiệm, người đứng đầu được trao đầy đủ quyền hạn để có thể tự mình quyết định các công việc liên quan đến sự vận hành, phát triển và cả vận mệnh của thiết chế đó. Những người bỏ phiếu chỉ đóng vai trò giám sát: nếu có điều gì đó không vừa ý, người bỏ phiếu có quyền yêu cầu bãi chức người lãnh đạo. Tương ứng với quyền hạn cá nhân rộng rãi là trách nhiệm cá nhân nặng nề: người lãnh đạo phải tự mình trả giá cho những sai lầm trong quyết định của mình, đắt hay rẻ tùy theo tính chất, mức độ nghiêm trọng của sai phạm, mà không thể đổ vấy cho ai khác. Chính vì luôn đơn độc khi đứng trước sự đe dọa của các biện pháp chế tài nghiêm khắc, mà người lãnh đạo phải e dè và không dám làm bậy.  

Chế độ dân chủ tập thể lại thừa nhận rằng sau khi bầu cử hoặc bỏ phiếu tín nhiệm xong, tập thể vẫn tiếp tục trực tiếp tham gia (đúng hơn là can thiệp) vào các công việc quản lý cụ thể mà, suy cho cùng, thuộc quyền và thuộc trách nhiệm của riêng người đã được bầu ra hoặc được bổ nhiệm. Điểm đặc biệt là khi thực hiện các quyền dân chủ trong mô hình quản lý nhà nước tập thể, người ta không nhân danh cá nhân mình mà cũng dựa vào tập thể. Trong khuôn khổ thực hiện quyền dân chủ tập thể, hầu như không thể hình dung khả năng diễn ra những cuộc giao tiếp trực tiếp giữa một bên là cá nhân người lãnh đạo và bên kia là một thành viên riêng lẻ của cơ quan hoặc công dân thuộc địa bàn quản lý.

Quản lý nhà nước theo cơ chế tập thể, các công việc quản lý cụ thể phải được sự đồng thuận của cả tập thể. Chỉ cần một nhóm nhỏ thành viên cơ quan hoặc người dân không đồng tình, thì công việc bị treo lại hoặc thậm chí sa vào chỗ bế tắc. Mặt khác, cũng vì tập thể trực tiếp thực hiện quyền quản lý mà một quyết định nào đó của công chức lãnh đạo, một khi được tập thể “duyệt”, sẽ trở thành quyết định của tập thể. Nếu đó là một quyết định sai, tập thể cùng chịu trách nhiệm. Và tất nhiên, trong điều kiện tập thể không phải là chủ thể quan hệ pháp luật, nói tập thể chịu trách nhiệm pháp lý cũng có nghĩa rằng trách nhiệm thuộc về hư không.

Cơ chế quản lý nhà nước dựa trên sự phủ định vai trò quyết định của cá nhân sản sinh hai căn bệnh nan y.

Căn bệnh thứ nhất là sự tha hóa của cá nhân, do tự biến dạng trong khung cảnh tranh tối, tranh sáng của quan niệm về chủ thể của quyền và chủ thể của trách nhiệm. Sự tha hóa của cá nhân có nguyên nhân từ sự mâu thuẫn giữa bản chất của cá nhân và yêu cầu xã hội đối với sự tồn tại của nó.

Có một sự thật cần phải dũng cảm nhìn nhận: chừng nào còn tồn tại, cá nhân sẽ luôn tồn tại, trước hết và trên nguyên tắc, vì lợi ích của riêng mình, chứ không phải vì lợi ích của cộng đồng.

Vả lại, có một chân lý rất giản dị, là chính trong quá trình được Nhà nước, xã hội tổ chức để tìm kiếm và thỏa mãn lợi ích chính đáng của mình mà cá nhân trở nên có ích cho cộng đồng. Bởi vậy, quyền lực công, thay vì chống lại việc cá nhân tìm kiếm lợi ích cho mình, phải tổ chức cho cá nhân làm việc đó trong khuôn khổ pháp luật.

Vấn đề là: trong gia đình các chủ thể của quyền và trách nhiệm dưới cơ chế quản lý nhà nước tập thể, tập thể là con chính thức và được ưu tiên chăm sóc, bồi dưỡng; việc tạo điều kiện cho cá nhân mưu cầu lợi ích của mình, do đó, chỉ được xếp hàng thứ yếu. Tuy nhiên, cá nhân khôn khéo sẽ biết lấy danh nghĩa tập thể để ra những quyết định của mình và lặng lẽ đi tìm kiếm các lợi ích của mình bằng cách núp bóng lợi ích tập thể. Cá nhân nào không giữ được mình về mặt đạo đức sẽ trở thành đứa con hoang, lộng hành, ăn cắp quyền của tập thể  và làm bậy nhằm thỏa mãn lợi ích của mình.

Căn bệnh thứ hai là sự lầm lạc trong nhận thức về bản chất của vấn đề, dẫn đến việc xác định sai nguyên nhân của những hiện tượng tiêu cực phát sinh trong hoạt động quản lý nhà nước. Càng phát hiện nhiều sai phạm nghiêm trọng, người ta lại càng tin rằng đó là do cơ chế vẫn còn dành cho cá nhân nhiều quyền và việc thực hiện các quyền đó còn chưa được kiểm soát chặt chẽ; từ đó, người ta càng ra sức tìm cách hạn chế, đi đến chỗ xóa bỏ quyền hạn của cá nhân. Trong một lần trả lời phỏng vấn về tệ nạn chạy chức, chạy quyền ở cấp cao, Bộ trưởng Nội vụ Đỗ Quang Trung đã khẳng định như đinh đóng cột rằng đó là do quy trình tổ chức dựa vào tập thể vẫn còn chỗ hở, vẫn còn những khâu trong đó cá nhân có quyền tự mình quyết định mà không cần tham khảo ý kiến tập thể.

Thực ra, cá nhân trong bộ máy nhà nước Việt Nam chưa bao giờ chính thức có một quyền nào cho ra hồn, mà chỉ được giao phụ trách công việc. “Cá nhân lạm quyền” chỉ là một cách diễn đạt khác của việc cá nhân ăn cắp quyền của tập thể.

Cá nhân sẽ còn tiếp tục ăn cắp để tập thể chịu trách nhiệm, chừng nào nó còn chưa cởi bỏ được thân phận con tư sinh của cơ chế, chưa được lôi từ bóng tối của chủ nghĩa núp bóng tập thể (mà cứ bị gọi... nhầm là chủ nghĩa cá nhân) ra ánh sáng mặt trời và được đặt vào đúng vị trí dành cho mình: vị trí của người có quyền tự mình quyết định và phải tự chịu trách nhiệm  về những quyết định ấy.   

Trong điều kiện tập thể không phải là chủ thể quan hệ pháp luật, nói tập thể chịu trách nhiệm pháp lý cũng có nghĩa rằng trách nhiệm thuộc về hư không.

Có thể bạn quan tâm