Hà Nội: Những trường hợp thu hồi đất được bồi thường và không được bồi thường

Những trường hợp thu hồi đất được bồi thường

- Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

- Có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được UBND xã, phường, thị trấn (gọi chung là UBND cấp xã) xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau: Những giấy tờ về quyền sử dụng đất trước ngày 15-10-1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính. Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất. Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15-10-1993. Giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở, mua nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật. Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.

- Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ trên, mà trên giấy tờ không ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến thời điểm có quyết định thu hồi đất chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp.

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ trên, nhưng đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15-10-1993, nay được UBND cấp xã xác nhận là đất đó không có tranh chấp và không thuộc một trong các trường hợp tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất đã có một trong các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật về đất đai (như vi phạm quy hoạch chi tiết xây dựng; mặt bằng xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; lấn, chiếm hành lang bảo vệ công trình công cộng đã được công bố mốc giới, cắm mốc; lấn chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè đã có chỉ giới; lấn, chiếm đất sử dụng cho mục đích công cộng, đất chuyên dùng, đất của tổ chức, đất chưa sử dụng và các trường hợp vi phạm khác đã có văn bản ngăn chặn nhưng người sử dụng đất vẫn cố tình vi phạm...).

- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được pháp luật công nhận về quyền sử dụng đất mà trước thời điểm Luật Ðất đai 1988 có hiệu lực, Nhà nước đã có quyết định quản lý trong quá trình thực hiện chính sách đất đai nhưng trong thực tế Nhà nước chưa quản lý mà hộ gia đình, cá nhân đó vẫn quản lý sử dụng.

- Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có các công trình là đình, đền, chùa, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ được UBND cấp xã nơi có đất bị thu hồi xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng và không có tranh chấp...

Những trường hợp bị thu hồi đất không được bồi thường

Theo Quyết định 137, các trường hợp sau đây không được bồi thường khi bị thu hồi đất:

- Người sử dụng đất không đủ điều kiện theo quy định; Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm; đất nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền trả cho việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.

- Ðất bị thu hồi thuộc một trong các trường hợp sau cũng không được bồi thường, gồm:

+ Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hằng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; Sử dụng đất không đúng mục đích, không có hiệu quả; Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất; Ðất được giao không đúng đối tượng, hoặc không đúng thẩm quyền; Ðất chưa sử dụng bị lấn, chiếm; Ðất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Ðất đai mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm.

+ Cá nhân sử dụng đất nếu chết mà không có người thừa kế; Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất; Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước; Ðất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn; Ðất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép...

Có thể bạn quan tâm