GS. Condominas: Dân tộc học là một lối sống

Buổi nói chuyện, với sự tham gia của TS Lưu Hùng – cán bộ Bảo tàng Dân tộc học và TS Olivier Tessier – Trường Viễn đông Bác Cổ, đã thu hút đông đảo các nhà khoa học, trong đó phần lớn là các nhà nghiên cứu dân tộc học Việt Nam và Pháp, nhiều bạn trẻ Việt Nam quan tâm. Đặc biệt, một nhóm người Mnông Gar từ làng Sar Luk, Đác Lắc cũng tới tham dự.

Năm nay 86 tuổi, G. Condominas được coi là bậc thầy trong giới nghiên cứu dân tộc học thế giới, người bạn lớn của nhiều bậc trí thức ở Việt Nam, cũng đồng thời là người thân của những người Mnông Gar ở làng Sar Luk. Những trải nghiệm, cảm xúc, tình cảm của ông, một nhà dân tộc học trong chuyến điền dã đầu đời cách đây hơn nửa thế kỷ để cho ra đời một công trình nghiên cứu nổi tiếng thế giới, vẫn còn nguyên với nhiều bài học quý giá.

Dân tộc học là đam mê

G.Condominas trong buổi lễ hiến sinh trâu tại làng Sar Luk.

-   Khi còn là một chàng trai 27 tuổi, từ một xã hội phương Tây đến sống cùng với người dân tại một ngôi làng hẻo lánh, với những tập quán sinh hoạt hoàn toàn xa lạ, có khi nào ông nản chí không?

-   Phải nói ngược lại là, không phải nản chí, mà thực sự mọi thứ ở đó đã thu hút tôi. Khi đó, nghiên cứu một nhóm người trong mọi mối quan hệ xã hội thu nhỏ đó là mối quan tâm của tôi. Với tôi, dân tộc học chính là đam mê, điền dã chính là đam mê. Khi người ta có đam mê, người ta sẵn sàng chấp nhận tất cả mọi khó khăn thử thách. Điều quan trọng nhất đối với một người nghiên cứu dân tộc học là phải biết sống hòa nhập vào xã hội, với những con người mà mình định nghiên cứu, đó là cách quan sát tốt nhất. Khi đến làng Sar Luk, tôi đã có ý muốn cùng sống với họ, cùng ăn, cùng ở và nói tiếng nói của họ. Sau một thời gian tôi ở cùng một vài gia đình, dân làng đã làm cho tôi một ngôi nhà ở ngay trong làng, và ở đó, họ dạy cho tôi biết nhiều thứ. Mặc dù khi đó, chị gái tôi ở Sài Gòn cũng rất lo rằng tôi sẽ gặp nguy hiểm, nhưng tôi tin vào trực giác của mình. Hồi đó, tôi có mang theo một khẩu súng, nhưng chỉ cầm theo người khi đi vào rừng sâu để đề phòng thú dữ. Có lần, tôi gặp một nhóm cán bộ Việt Minh trên đường đi, nhưng chính họ đã an ủi tôi: “Đừng ngại, ông là nhà khoa học, và ông đang làm việc vì đất nước chúng tôi. Ông luôn luôn được tôn trọng”.

-   Ông vừa nói mục đích của một nhà nghiên cứu dân tộc học khi hòa mình vào một xã hội là để quan sát, vậy nhưng việc quan sát lại phải yêu cầu có một khoảng cách nhất định. Vậy ông làm thế nào để vừa thực sự sống hòa nhập với người dân làng Sar Luk, vừa giữ được khoảng cách cần thiết để quan sát cuộc sống của họ?

-   Có một sự khác biệt giữa nghiên cứu dân tộc học với các môn khoa học cơ bản khác, đó chính là cách quan sát. Một nhà nghiên cứu sinh vật học hay vật lý học chỉ có thể đứng ở bên ngoài để nghiên cứu, nhìn nhận về đối tượng của mình. Thì với một nhà nghiên cứu dân tộc học là nghiên cứu con người trong mối quan hệ xã hội tương quan, trong chính môi trường sống của họ. Do đó, cách quan sát của nhà dân tộc học phải là từ bên trong. Khi đó, tôi là một người từ xã hội phương Tây, nhưng nếu tôi áp đặt thế giới quan của một người phương Tây, với những chuẩn mực, giá trị hoàn toàn khác để đo đếm, định lượng về cộng đồng Mnông Gar nhỏ bé, theo tôi là không phù hợp. Chẳng hạn, để đánh giá một món ăn của người Mnông Gar là có ngon hay không, thì chỉ có là người Mnông Gar mới có thể biết hết được. Nên nếu muốn biết ngon hay không, bạn hãy chính là người Mnông Gar.

Hình ảnh G.Condominas được người Mnông Gar
khắc trên chân một đồ đan.

-   Ông là một người châu Âu, dù gì thì chắc chắn ông cũng không thể hòa nhập hoàn toàn như một thành viên của cộng đồng người Mnông Gar ở một làng châu Á xa xôi hẻo lánh như vậy. Việc sống hòa nhập đó, theo ông, được bao nhiêu phần trăm như ông mong muốn?

-   Trước hết, tôi không hoàn toàn là một người châu Âu. Tôi biết tiếng Việt qua mẹ tôi và có một thời, tôi đã nói tiếng Việt (GS sinh tại Hải Phòng, bố là người Pháp, mẹ là người Việt lai Bồ Đào Nha-PV). Tuy giờ không còn nói nữa, nhưng tôi vẫn không quên một mảng đời sống tinh thần của người phương Đông luôn mang sẵn trong dòng máu của tôi. Khi tôi tiếp xúc với những người Mnông Gar ở làng Sar Luk, tôi cảm thấy như mình đang gặp chính bản ngã của mình. Và sống tại đó, đôi khi, tôi thấy tôi được là chính mình. Khi cuốn sách của tôi về người Mnông Gar ra đời, tôi đã ngạc nhiên vì cùng lúc có nhiều nhà xuất bản trên thế giới cùng bày tỏ ý muốn được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau. Tôi đặt ra câu hỏi: Tại sao họ ở những nơi khác nhau, với những nền văn hóa hoàn toàn khác nhau, như Nhật Bản  và Tây Ban Nha, lại quan tâm đến cuốn sách tôi viết về Việt Nam như vậy?

-   Được biết, cuốn sách “Chúng tôi ăn rừng đá thần Goô” của ông ra đời cách đây nửa thế kỷ đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng, và gây tiếng vang đầu tiên không phải trong giới nghiên cứu dân tộc học, mà chính là trong giới văn học. Vậy có phải là dân tộc học có chút gì đó bay bổng so với thực tế không, bản thân ông có mong muốn điều đó không?

-   Tôi không muốn nói quá nhiều về mình cũng như cuốn sách của mình nữa. Nhưng tôi chỉ muốn nói đến một mục tiêu duy nhất, đó là tính chính xác trong khoa học. Vậy nhưng, nghiên cứu dân tộc học với những tiếp cận nhân chủng học, lại đòi hỏi phải sống thực tế và phải có sự giao lưu. Đôi khi chúng ta hay nhìn các nhà khoa học như là những con người có đời sống riêng với những công việc biệt lập. Nhưng với nhà dân tộc học không như vậy. Nghiên cứu dân tộc học chính là cuộc sống của họ, trong mọi mối quan hệ giữa đối tượng, chủ thể nghiên cứu gắn kết  với nhau. Đó chính là điểm độc đáo của nhà nghiên cứu dân tộc học. Theo tôi, nhà nghiên cứu dân tộc học không phải là người nắm giữ tri thức, mà là cầu nối giữa tri thức và cộng đồng, giữa văn hóa và xã hội.

Người Mnông Gar làm thay đổi quan niệm sống

Sraang, năm 1949.

- Ở Việt Nam, và ở Tây Nguyên có rất nhiều tộc người, tại sao ông lại chọn một nhóm người Mnông Gar để nghiên cứu?

- Phải nói rằng điều này như một cơ duyên. Khi tôi đến Tây Nguyên, đối tượng mà tôi muốn nghiên cứu là người Ê Đê. Tình cờ có một người bạn Việt Nam của tôi tên là Doanh, khi đó phụ trách y tế các tỉnh cao nguyên, đã giới thiệu với tôi công việc chăm sóc sức khoẻ cho người Mnông. Lời khuyên của ông ta với tôi: muốn chăm sóc sức khoẻ cho họ thì phải sống chung với họ. Và tôi chỉ có những thông tin rất ít ỏi về tộc người này, khi đến huyện Lắk. Đến đây tôi phát hiện ra là nhóm người này chưa từng có ai biết đến cả. Và mặc dù họ sống rất hoang dã, nhưng nếu tìm hiểu kỹ lại thấy, rất khoa học.

- Trong quá trình “ba cùng” với người Mnông Gar, điều khó khăn nhất của ông là gì? Ông đã ăn món nước xáo sau lễ đâm trâu chưa, và cảm giác của ông thế nào?

- Tất nhiên khởi đầu rất khó khăn. Khi tôi nếm thử món xáo trâu đó, tôi hỏi dân làng là có gì trong đó vậy, họ bảo là “phân trâu đấy”. Và câu trả lời này làm cho tôi không hoàn toàn dễ chịu. Chắc chắn đó không phải là món ăn mà tôi thích. Tôi cố gắng để thích nghi thôi, và sự thích nghi này phải có một quá trình chứ không thể chỉ ngày một ngày hai được. Bí quyết của tôi, hãy là chính mình và quan tâm đến người khác. Nếu mình xa lạ trong một cộng đồng như vậy, cách tốt nhất để họ quan tâm đến mình, đấy là mình phải thực sự yêu thương họ.

- Vậy sau một mùa rẫy chung sống với họ, ông có cảm nhận gì về tộc người này?

G.Condominas gặp lại Sraang, tháng 3-2006.

- Tôi đã học được ở họ rất nhiều điều. Chẳng hạn, ta thấy rằng người Mnông Gar sống dựa vào rừng, họ đốt rừng để làm rẫy đấy, nhưng đừng tưởng họ cứ đốt tự nhiên như vậy. Họ chỉ đốt rừng ở những chỗ nào được phép đốt, và bảo vệ nghiêm ngặt những chỗ cần bảo vệ. Nếu để ý bạn sẽ thấy họ rất am hiểu môi trường nơi mình sinh sống. Đốt rừng, với người Mnông, là một cách bảo vệ rừng, chứ không phải là tàn phá rừng như sau này người ta vẫn thường làm. Khi tôi sống ở đó, tôi hiểu được ý nghĩa, giá trị của rừng đối với họ. Họ sống hài hoà với thiên nhiên, và khi đưa ra một quyết định gì họ đều tính toán kỹ lưỡng, bàn bạc trao đổi với cộng đồng trong làng. Hoặc đối với họ, giàu có không có nghĩa là có nhiều của cải, mà phải là người mang của cải đi phân phát được cho nhiều người. Tôi cũng học được tính cách vui vẻ nhiệt tình của họ, và đôi khi, là sự thâm trầm sâu sắc nữa. Thực sự họ đã làm tôi thay đổi nhiều quan niệm sống. Và sau một năm khi trở về Pháp, tôi đã mất khá nhiều thời gian để lấy lại thăng bằng.

- Được biết, ông đã trở lại Sar Luk vào năm 2006, vậy cảm giác của ông khi thấy sự thay đổi ở đây?

- Tôi cũng có buồn và nuối tiếc, tuy nhiên chút nuối tiếc đó không đáng kể. Bản chất cuộc sống là luôn luôn thay đổi. Quan trọng là chúng ta phải biết giữ gìn những giá trị cũ. Theo tôi, hiện nay văn hóa vật thể đang bị xem nhẹ. Đó là những phương thức sản xuất, lối sống, đồ dùng, nhiều khi, đó chỉ là cách chọn gỗ để đẽo đồ dùng… chẳng hạn, tưởng là đơn giản bình thường, nhưng đó chính là những yếu tố cấu thành một nền văn hóa, một hệ quy chiếu để nghiên cứu, lưu giữ một giá trị văn hóa tinh thần của một cộng đồng người.

- Xin cám ơn ông về cuộc trò chuyện này.

Có thể bạn quan tâm