Gỡ khó cho vùng chè nam Tây Nguyên

Cây chè bén duyên khu vực nam Tây Nguyên từ những thập niên đầu thế kỷ trước bởi khí hậu và thổ nhưỡng ở vùng cao nguyên này rất thuận lợi để phát triển cây chè. Hàng chục năm qua, sản phẩm chè Lâm Đồng đã khẳng định vị thế tại nhiều thị trường quốc tế. Nhưng, thời gian gần đây, “thủ phủ” chè của cả nước đang gặp khó khăn, do những bất cập từ khâu sản xuất đến tìm kiếm thị trường tiêu thụ.

Sản xuất chè ô long tại Công ty chè Cầu Đất (TP Đà Lạt, Lâm Đồng).
Sản xuất chè ô long tại Công ty chè Cầu Đất (TP Đà Lạt, Lâm Đồng).

Tìm lại sự cân bằng cung - cầu

Chúng tôi tìm về nơi khởi nguồn nghề chè trên vùng đất nam Tây Nguyên. Ngày xưa, nơi đây gọi là Sở trà Cầu Ðất do người Pháp lập ra năm 1927. Bây giờ, trên vùng Cầu Đất, địa bàn xã Xuân Trường và Trạm Hành (TP Đà Lạt, Lâm Đồng) là nơi đóng chân của năm công ty sản xuất chè, với diện tích hơn 460 ha, phần lớn là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến từ Đài Loan (Trung Quốc). Trong đó, hơn 189 ha của 159 hộ dân ký kết sản xuất chè với doanh nghiệp, sản lượng khoảng 1.200 tấn mỗi năm. Thời gian gần đây, cảm giác lo âu bao phủ trên những nương chè của nông dân. Công ty TNHH Fusheng có 100% vốn Đài Loan (Trung Quốc) thông báo tạm ngừng thu mua chè nguyên liệu của nông dân từ ngày 1-1-2016, nông hộ nào có vốn đầu tư mới có thể tiếp tục hợp tác trồng hoa lan. Một số công ty khác vẫn nợ tiền mua chè của người dân, do còn khó khăn về đầu ra chè thành phẩm.

Tại xứ chè B’Lao, TP Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm, nơi chiếm phần lớn diện tích chè của tỉnh Lâm Đồng, nhiều hộ trồng chè tại đây cũng đang đối mặt với bài toán đầu ra, giá cả. Ông Linh Anh Cường (xã Đam B’ri, TP Bảo Lộc) thổ lộ: “Công ty vẫn thu mua, nhưng giá thấp, nợ tiền”. Vườn chè hơn 20 ha của gia đình ông Huỳnh Kim Tuyến (xã Lộc Tân, huyện Bảo Lâm) cũng trong tình trạng bế tắc, khiến ông phải tìm mối để nhượng lại vườn. “Từ đầu năm tới nay hái được bốn lứa, chỉ bán được một lứa, còn lại gửi công ty để gia công thành phẩm, nhưng vẫn nằm kho” - Ông Tuyến cho hay.

Tổng thư ký Chi hội thương gia Đài Loan tại Lâm Đồng, Giám đốc Công ty TNHH trà Phú Toàn (xã Đam B’ri, TP Bảo Lộc), ông Teng Chao Chuan cho biết: “Chúng tôi có 40 ha chè nguyên liệu, trong đó hợp tác với người dân khoảng 30 ha. Nhưng do còn tồn hơn 50 tấn chè thành phẩm, cho nên phải ngừng thu mua nguyên liệu, công nhân đã nghỉ việc hơn một nửa”.

Xã Lộc Tân có hơn 1.000 ha chè, 11 công ty sản xuất, kinh doanh chè. Phó Chủ tịch UBND xã Lộc Tân Bùi Thanh Bình cho biết: “Hiện, việc tiêu thụ chè của nông dân và doanh nghiệp đều gặp khó khăn, vì giá cả xuống thấp, thị trường bó hẹp. Chúng tôi tuyên truyền người dân chưa nên vội thay thế cây trồng khác”.

Đầu ra của sản phẩm chè Lâm Đồng bị ngưng trệ thời gian khá dài, do đó, thị trường đang hụt nguồn cung. Phó Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần chè Lâm Đồng (Ladotea) Đoàn Trọng Phương cho biết: “Ngành chè Lâm Đồng đang tìm về sự cân bằng của quy luật cung - cầu. Tháng 11 vừa qua, vài doanh nghiệp sản xuất chè ô long đã xuất khẩu được sản phẩm, Ladotea cũng xuất hơn 200 tấn chè các loại đến thị trường In-đô-nê-xi-a, Pa-ki-xtan và khối ASEAN. Đặc biệt, thị trường nội địa dịp Tết 2016 đang mở ra cơ hội cho lượng chè tồn kho”.

Tuy nhiên, đó mới chỉ là sự tác động tự nhiên của thị trường, để bảo đảm sự phát triển bền vững của ngành chè, cần những giải pháp căn cơ từ khâu sản xuất đến thị trường tiêu thụ.

Liên kết sản xuất chè an toàn

Lâm Đồng được mệnh danh là “thủ phủ” chè cả nước, với diện tích gần 24 nghìn ha (chiếm 22% diện tích chè cả nước), sản lượng đạt hơn 230 nghìn tấn (chiếm 32%), với khoảng 65 nghìn hộ nông dân đang sản suất chè, hơn 260 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, chế biến. Tuy nhiên, để ngành chè phát triển bền vững, chất lượng ngày càng cao, từng bước nâng cao giá trị sản phẩm để chinh phục thị trường quốc tế, còn nhiều vấn đề được đặt ra.

Tổng thư ký Chi hội thương gia Đài Loan tại Lâm Đồng, ông Teng Chao Chuan khẳng định: “Phía Đài Loan (thị trường chiếm hơn 90% sản lượng chè xuất khẩu của Lâm Đồng) không cấm các doanh nghiệp trong nước nhập khẩu chè ô long sản xuất tại Việt Nam, nhưng đặt ra hàng rào kỹ thuật khắt khe để hạn chế nhập khẩu. Để có sản phẩm chè chất lượng cao, rất cần sự vào cuộc của nhiều cơ quan, đơn vị”. Trước thực trạng nêu trên, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lâm Đồng Nguyễn Văn Sơn cho rằng: “Giải pháp căn cơ và chủ yếu nhất là thiết lập hệ thống tổ chức sản xuất nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi. Đây là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp sản xuất được sản phẩm an toàn và nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm”. Phó Giám đốc Công ty TNHH Thương mại sản xuất - Xuất nhập khẩu Trí Việt Bùi Quang Đức cho biết: “Chúng tôi vừa xuất một công-ten-nơ chè ô long sang Đài Loan (Trung Quốc). Nhờ liên kết sản xuất, bao tiêu sản phẩm chè VietGAP với 10 hộ nông dân, trên diện tích 10 ha, cho nên công ty không còn nỗi lo về nguồn nguyên liệu sạch, còn nông dân yên tâm về đầu ra”.

Tại hội nghị bàn biện pháp tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ chè trên địa bàn tỉnh mới đây, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Phạm S cho rằng, tới đây phải hình thành các liên minh sản xuất chè bền vững, xây dựng cánh đồng mẫu lớn để phù hợp xu thế sản xuất nông nghiệp hàng hóa, mở rộng diện tích chè an toàn, đầu tư xây dựng để gắn kết chặt chẽ giữa nhà máy chế biến và vùng nguyên liệu; đồng thời, kiên quyết xử lý các đơn vị sản xuất chè vi phạm an toàn vệ sinh thực phẩm, gây ảnh hưởng đến uy tín ngành chè.

Xúc tiến mở rộng thị trường

Những năm qua, sản phẩm chè của Lâm Đồng nói riêng và của Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào thị trường xuất khẩu truyền thống, như: Áp-ga-ni-xtan, Pa-ki-xtan, Trung Quốc, Nga… mà chưa chủ động mở rộng thị trường xuất khẩu mới. Vì thế, khi thị trường truyền thống có vấn đề thì doanh nghiệp lập tức gặp khó khăn. Điển hình, thời gian gần đây, phía Đài Loan (Trung Quốc) dựng hàng rào kỹ thuật về vệ sinh an toàn thực phẩm rất khắt khe, gây điêu đứng cho ngành chè Lâm Đồng. “Rõ ràng, thị trường Đài Loan không phải ngừng tiêu thụ, mà đang “làm giá”, đó là bài học đắt giá về việc “dồn hết trứng vào một giỏ” - Phó Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam Đoàn Trọng Phương cho hay. Theo Hiệp hội Chè Việt Nam, đến nay, cả nước đã xuất khẩu hơn 110 nghìn tấn chè các loại, trị giá hơn 187 triệu USD, giảm 8% so cùng kỳ năm ngoái. Riêng tại Lâm Đồng, các doanh nghiệp còn tồn kho hơn bốn nghìn tấn chè các loại, sáu doanh nghiệp FDI của Đài Loan (Trung Quốc) ngừng hoạt động, nhiều doanh nghiệp sản xuất cầm chừng và nhiều nông hộ trồng chè phải dùng phương pháp “đốn đau” (đốn ngang cây chè) để hạn chế thu hái, do bí đầu ra. “Sắp tới, chúng ta phải mở rộng thị trường sang châu Âu, Mỹ và các nước ASEAN. Trong đó, chú ý sản phẩm chè ô long, tránh lệ thuộc thị trường Đài Loan như hiện nay; đồng thời, áp giá hợp lý và giữ chất lượng để khai thác thị trường tiềm năng nội địa” - Ông Đoàn Trọng Phương gợi mở.

Nhiều chuyên gia kinh tế nhận định, cạnh tranh thị trường xuất khẩu sẽ gay gắt hơn, khi tới đây, nước ta tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), cùng với việc hình thành Cộng đồng ASEAN, hàng rào thuế quan được dỡ bỏ. Chắc chắn, mỗi nước sẽ dựng lên hàng rào kỹ thuật riêng, khắt khe hơn, đòi hỏi chúng ta phải sớm thay đổi để thích ứng. Hiện, một số doanh nghiệp tại Lâm Đồng đã bắt đầu bước vào “sân chơi” này. “Chúng tôi đã liên kết sản xuất chè VietGAP, bảo đảm nguồn nguyên liệu đạt tiêu chuẩn. Và thống nhất với các hộ liên kết để hướng sang thị trường châu Âu, Nhật Bản” - Phó Giám đốc Công ty TNHH Thương mại sản xuất - Xuất nhập khẩu Trí Việt Bùi Quang Đức thổ lộ.

Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Phạm S, ngoài việc quan tâm về nâng cao chất lượng sản phẩm chè, sắp tới, địa phương tổ chức đoàn xúc tiến thương mại tại châu Âu để mở cửa thị trường này cho ngành chè Lâm Đồng. Hiện, các doanh nghiệp sản xuất chè xanh, chè đen chưa quan tâm đến thị trường trong nước, mà tập trung xuất khẩu với giá trị thấp; để bảo đảm ổn định đầu ra, các doanh nghiệp phải có kế hoạch, chủ động tìm kiếm thị trường mới trong và ngoài nước, định hướng sản xuất các nhóm sản phẩm theo thị trường. Cùng với đó, cần đầu tư kinh phí bảo hộ để phát triển thương hiệu “Chè B’Lao” ra các thị trường tiềm năng như: Nhật Bản, Mỹ, Ca-na-đa, Nga, Đức, Xin-ga-po, Hà Lan và các nước Trung Đông.

Mặc dù còn nhiều khó khăn trước mắt, nhưng nếu sớm liên kết mở rộng vùng sản xuất chè nguyên liệu theo hướng hàng hóa; nâng cao năng lực chế biến, chất lượng sản phẩm, tăng cường quảng bá thương hiệu… Chúng tôi tin rằng, hương chè của miền đất ba dan nam Tây Nguyên sẽ lan xa hơn tại nhiều thị trường thế giới.

Có thể bạn quan tâm