GS, TS Hoàng Văn Cường khẳng định: Nghị quyết 79 tái định vị kinh tế nhà nước ở vai trò là “trụ cột” và dẫn dắt, mở đường cho toàn bộ nền kinh tế.
GS, TS Hoàng Văn Cường khẳng định: Nghị quyết 79 tái định vị kinh tế nhà nước ở vai trò là “trụ cột” và dẫn dắt, mở đường cho toàn bộ nền kinh tế.

Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Văn Cường: Cuộc cách mạng từ can thiệp sang “trao quyền” cho doanh nghiệp nhà nước “kiến tạo” nền kinh tế

Nghị quyết 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước đánh dấu bước ngoặt mang tính chiến lược, giải quyết căn bản những điểm nghẽn trong cơ chế vận hành của khu vực kinh tế nhà nước để bứt phá trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 79 tái định vị kinh tế nhà nước ở vai trò là “trụ cột” và dẫn dắt, mở đường cho toàn bộ nền kinh tế. Để thực hiện vai trò này, tư duy quản trị cần chuyển dịch từ can thiệp hành chính sang mô hình trao quyền cho doanh nghiệp nhà nước và người đứng đầu, tách bạch triệt để giữa chức năng quản lý nhà nước và quản trị kinh doanh.

Phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc trao đổi với Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Văn Cường, Đại biểu Quốc hội khóa XV, Ủy viên Ủy ban Tài chính-Kinh tế Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước chung quanh những giải pháp mang tính đột phá để thúc đẩy kinh tế nhà nước.

Cần hiểu đúng về nội hàm "Kinh tế nhà nước" trong bối cảnh mới

Phóng viên: Thưa Giáo sư Hoàng Văn Cường, Nghị quyết 79 tiếp tục khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và phải thực hiện sứ mệnh "mở đường", "dẫn dắt" quá trình cơ cấu lại nền kinh tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh khu vực tư nhân đang trỗi dậy mạnh mẽ ở các ngành công nghệ cao, nội hàm của khái niệm "dẫn dắt" trong giai đoạn tới cần được hiểu như thế nào cho đúng?

GS, TS Hoàng Văn Cường: Để hiểu đúng về vai trò dẫn dắt, trước hết chúng ta cần làm rõ nội hàm của khái niệm "Kinh tế nhà nước" được đề cập trong Nghị quyết 79. Đây là một phạm vi rất rộng, không nên hiểu bó hẹp chỉ gồm các doanh nghiệp nhà nước hay các đơn vị sự nghiệp công lập.

Kinh tế nhà nước bao quát toàn bộ các nguồn lực quốc gia mà Nhà nước nắm giữ và quản lý, bao gồm: tài nguyên thiên nhiên, đất đai, hệ thống hạ tầng, ngân sách quốc gia và các công cụ chính sách. Như vậy, kinh tế nhà nước không chỉ là các "thực thể" hoạt động kinh tế mà còn là tổng hòa các "nguồn lực" kinh tế của quốc gia.

Sứ mệnh dẫn dắt và mở đường của kinh tế nhà nước được thể hiện rõ nét qua việc phân bổ các nguồn lực này cho nền kinh tế.

Cụ thể, Nhà nước sử dụng các công cụ như quy hoạch đất đai, phân bổ tài nguyên và đặc biệt là hệ thống chính sách tài chính (như thuế, phí). Nếu muốn khuyến khích một ngành hàng hay một vùng miền phát triển, Nhà nước sẽ áp dụng mức thuế ưu đãi, tập trung đầu tư hạ tầng công cộng và đổ nguồn lực vào đó. Ngược lại, với những lĩnh vực không khuyến khích, Nhà nước sẽ điều tiết bằng thuế cao hoặc hạn chế nguồn lực.

Chính các quyết định phân bổ nguồn lực và các chính sách kinh tế này là công cụ định hướng, dẫn dắt toàn bộ nền kinh tế phát triển theo mục tiêu chiến lược. Kinh tế nhà nước tạo ra tiền đề, tạo lập "sân chơi" và vạch ra hành lang phát triển cho tất cả các khu vực kinh tế khác, chứ không riêng lẻ một khu vực nào. Có thể nói, Nhà nước giữ vai trò "cầm trịch", làm chủ toàn bộ quá trình phát triển thông qua việc nắm giữ các yếu tố then chốt nhất của nền kinh tế.

Trong thực tế, kinh tế nhà nước không hoạt động độc lập hay tách rời. Nó luôn song hành cùng khu vực kinh tế tư nhân và khu vực đầu tư nước ngoài (FDI). Ở đây, các doanh nghiệp nhà nước phải là lực lượng đi tiên phong, hiện thực hóa các mục tiêu mà Nhà nước mong muốn tại những lĩnh vực khó, lĩnh vực mới hoặc trọng điểm.

Doanh nghiệp nhà nước có lợi thế là được nhận nguồn lực trực tiếp từ ngân sách, được ưu tiên về cơ chế tiếp cận đất đai, tài nguyên. Với sức mạnh hậu thuẫn từ nguồn lực quốc gia như vậy, các hoạt động kinh tế của Nhà nước phải tạo được sức lan tỏa, thu hút các khu vực kinh tế khác cùng tham gia vào chuỗi giá trị, từ đó thúc đẩy sự phát triển chung.

dsc-5349.jpg
Tổng Công ty Hàng không Việt Nam luôn chủ động triển khai các phương án để hoàn thành dự án Sân bay Long Thành.

Trả lại quyền tự chủ cho doanh nghiệp nhà nước

Phóng viên: Nghị quyết chỉ rõ một trong những hạn chế lớn là chưa giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa "Nhà nước-thị trường-xã hội" và yêu cầu tách bạch chức năng quản lý nhà nước với chức năng kinh doanh. Theo Giáo sư, đâu là những công cụ pháp lý hoặc cơ chế giám sát then chốt để chấm dứt tình trạng can thiệp hành chính trực tiếp vào hoạt động doanh nghiệp, bảo đảm nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng như Nghị quyết đã đề ra?

GS, TS Hoàng Văn Cường: Trước hết, phải thừa nhận rằng thị trường là công cụ phân bổ và sử dụng nguồn lực hiệu quả nhất. Theo quy luật tự nhiên, nguồn lực sẽ luôn chảy về những nơi tạo ra giá trị cao nhất, mang lại nhiều lợi nhuận nhất. Chính cơ chế này tạo ra động lực phát triển cực kỳ mạnh mẽ; ai sử dụng nguồn lực hiệu quả sẽ trở thành người dẫn dắt, ngược lại, những người yếu kém sẽ bị đào thải.

Tuy nhiên, thị trường không phải là "vạn năng". Vai trò của Nhà nước không phải là thay thế thị trường, mà là thực hiện những nhiệm vụ mà thị trường không thể hoặc không muốn làm. Trước hết là điều tiết nguồn lực chiến lược, tiếp đến là vận hành khu vực dịch vụ công và bảo đảm an sinh xã hội. Sự cân bằng giữa hiệu quả kinh tế (của thị trường) và công bằng xã hội (do Nhà nước bảo đảm) chính là mấu chốt của sự phát triển ổn định.

Một điểm mới quan trọng trong Nghị quyết và cũng đã được tinh thần Luật số 68 (Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp) kế thừa, đó là việc phân định rõ ranh giới giữa quản lý Nhà nước và quản trị kinh doanh.

Để doanh nghiệp nhà nước phát triển, chúng ta phải trả lại cho họ quyền tự chủ. Nhà nước không nên can thiệp vào các quyết định kinh doanh cụ thể theo kiểu "cầm tay chỉ việc" hay bắt lỗi hành chính, vì điều đó làm mất đi tính năng động và cơ hội của doanh nghiệp.

Ranh giới đó được xác lập như sau:

Nhà nước: Giữ vai trò định hướng thông qua quy hoạch, chính sách thuế, và phân bổ vốn đầu tư ban đầu.

Doanh nghiệp: Sau khi nhận nhiệm vụ và nguồn lực, doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong việc vận hành để đạt mục tiêu đó. Họ có quyền tự quyết để nhanh nhạy chớp thời cơ thị trường.

Tóm lại, chúng ta cần một thể chế mà ở đó những vấn đề gì thuộc về an sinh, xã hội thì Nhà nước phải "cầm trịch"; còn những gì thuộc về nghiệp vụ kinh doanh, hãy để sức mạnh thị trường và quyền tự chủ của doanh nghiệp quyết định. Có như vậy, nền kinh tế mới vừa có tốc độ, vừa có sự nhân văn.

Phóng viên: Nghị quyết 79 đã mở ra cơ chế đột phá khi nhấn mạnh doanh nghiệp nhà nước phải tiên phong trong nghiên cứu và phát triển (R&D), và được phép sử dụng quỹ khoa học công nghệ theo cơ chế khoán sản phẩm và hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm. Tuy nhiên lãnh đạo các doanh nghiệp thường e ngại bởi tính rủi ro cao. Quan điểm của Giáo sư, Nghị quyết cần được cụ thể hóa ra sao để “cởi trói” cho tư duy đổi mới sáng tạo?

GS, TS Hoàng Văn Cường: Cơ hội kinh doanh nào có khả năng mang lại lợi nhuận càng cao thì mức độ rủi ro của nó cũng càng lớn. Chỉ khi nào nhà quản trị kinh doanh dám chấp nhận rủi ro cao thì mới có thể kỳ vọng mang lại hiệu quả cao. Do đó, cần phải có cơ chế chấp nhận rủi ro.

Vì vậy, việc hình thành Quỹ đầu tư mạo hiểm hay rộng hơn là một cơ chế để nhà nước chấp nhận rủi ro là điều cần thiết. Điều này mở đường cho phép các doanh nghiệp nhà nước được quyền quyết định và lựa chọn những cơ hội có hiệu quả cao, tiềm năng tốt dù có thể xảy ra rủi ro.

Điểm thứ hai, để đầu tư tạo ra sự phát triển bứt phá, vượt bậc và mang lại hiệu quả gấp bội, người ta thường phải lựa chọn đầu tư mạo hiểm, đặc biệt là đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ. Đầu tư vào khoa học công nghệ và nghiên cứu có thể rất thành công, mang lại hiệu quả gấp 5-10 lần, thậm chí gấp bội, nhưng tỷ lệ thành công thường không cao. Nếu nghiên cứu không thành công, chúng ta phải chấp nhận bỏ đi. Tỷ lệ rủi ro trong đầu tư mạo hiểm cho nghiên cứu chuyển giao công nghệ là rất lớn, vì vậy, Quỹ đầu tư mạo hiểm có ý nghĩa rất lớn trong việc khuyến khích và giúp cho các hoạt động của nhà nước được tiếp cận, dám nghĩ đến và dám thực hiện các hoạt động đầu tư mạo hiểm, đặc biệt là trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.

Cần phải có một cơ chế phân định rạch ròi. Thứ nhất, đâu là rủi ro thực sự được chấp nhận? Thứ hai, nếu đầu tư mà lại lợi dụng để trục lợi cá nhân thì phải xử lý như thế nào? Cần có cơ chế để kiểm soát việc trục lợi. Thứ ba, cần có cơ chế sàng lọc để tránh những quyết định yếu kém. Nếu anh quyết định sai do năng lực không đủ, gây lãng phí, thất thoát thì đó là lỗi của anh, chứ không thể đổ lỗi cho rủi ro.

Chúng ta phải đưa ra được những cơ chế đánh giá, đo lường rõ ràng như vậy. Nếu không có những cơ chế này thì Quỹ đầu tư mạo hiểm sẽ không mang lại hiệu quả, vì nó có thể rơi vào nhóm bị trục lợi, lãng phí, hoặc người ta sợ bị quy kết tội trục lợi/lãng phí nên không dám sử dụng quỹ này để đầu tư vào rủi ro. Do đó, cần có cơ chế vận hành, đánh giá và sử dụng quỹ một cách rõ ràng thì mới mang lại hiệu quả thực sự.

san-pham-dich-vu-1.jpg
Theo GS,TS Hoàng Văn Cường, để đầu tư tạo ra sự phát triển bứt phá, vượt bậc và mang lại hiệu quả gấp bội, người ta thường phải lựa chọn đầu tư mạo hiểm, đặc biệt là đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ.

Phóng viên: Liên quan đến yếu tố con người, Nghị quyết 79 nhấn mạnh việc thiết lập quy trình xem xét độc lập để bảo vệ cán bộ "dám nghĩ, dám làm" trong trường hợp xảy ra rủi ro không do vụ lợi. Dưới góc độ chuyên gia, Giáo sư đánh giá như thế nào về tính khả thi của chủ trương này để phân định rõ ràng giữa "sai sót trong kinh doanh" và "thất thoát tài sản nhà nước"?

Giáo sư Hoàng Văn Cường: Dứt khoát phải có một cơ chế bảo vệ sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm và dám chấp nhận rủi ro. Có như vậy mới tìm ra được những con đường mới, giải pháp mới mang lại hiệu quả.

Vì vậy, như tôi đã nói, chúng ta cần một cơ chế đánh giá và phân định thật rõ ràng giữa rủi ro khách quan với hành vi trục lợi, hoặc với năng lực yếu kém. Phải đánh giá dựa trên việc anh đã làm thật và kết quả anh tạo ra là gì.

Thứ hai, cần có cơ chế giúp người quản trị thực hiện công khai, minh bạch và giải trình cho hoạt động của mình. Cơ chế này sẽ giúp loại trừ những trường hợp trục lợi cũng như những người không đủ năng lực đưa ra quyết định gây thất thoát.

Khi cơ chế này vận hành tốt, nó sẽ khuyến khích những người năng động, sáng tạo dám nghĩ, dám làm vì họ biết mình được bảo vệ và có cơ hội chứng minh. Trên thế giới, công khai và minh bạch là cơ chế được coi trọng đặc biệt trong cả kinh doanh lẫn chính trị và quản lý, nhất là trong khu vực công.

Việc luật hóa bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, năng động sáng tạo không chỉ dành riêng cho doanh nghiệp nhà nước mà phải áp dụng chung cho tất cả những người hoạt động trong khu vực công.

Bất cứ ai ở trong khu vực công hoặc liên quan đến nguồn lực nhà nước đều cần có một cơ chế bảo vệ sự năng động, sáng tạo thông qua công khai, minh bạch và giải trình. Tôi cho rằng đây là việc cần làm ngay. Có lẽ đây cũng đang là một "khoảng trống". Chúng ta nhắc rất nhiều đến công khai, minh bạch và giải trình, nhưng thực tế chưa hề có một cơ chế hay khung khổ pháp lý cụ thể nào quy định rõ ràng về vấn đề này để bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm.

Cần phải chuyển từ cơ chế quản lý vốn sang cơ chế đầu tư vốn

Phóng viên: Một điểm mới đáng chú ý trong Nghị quyết là định hướng tái cơ cấu Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) tiến tới hình thành "Quỹ đầu tư quốc gia". Sự chuyển dịch từ mô hình "quản lý vốn" sang "đầu tư vốn chuyên nghiệp" có phải là bước đệm để Việt Nam hình thành các tập đoàn đầu tư vốn nhà nước tương tự mô hình Temasek của Singapore hay Khazanah của Malaysia?

GS, TS Hoàng Văn Cường: Khi đã trao quyền và đầu tư vốn vào doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước cần tách bạch quyền quản lý ra. Đó mới thực sự là hoạt động đầu tư vốn, chứ không còn là quản lý vốn theo kiểu can thiệp trực tiếp nữa.

Như vậy, cơ chế của chúng ta hiện nay cần phải chuyển từ cơ chế quản lý vốn sang cơ chế đầu tư vốn. Khi đó, chức năng của cơ quan quản lý vốn sẽ thay đổi hoàn toàn: Từ chỗ là một công ty quản lý vốn nhà nước, sẽ chuyển sang chức năng của một công ty đầu tư vốn.

Cơ chế đầu tư vốn cần linh hoạt: Tôi lấy thí dụ, chúng ta muốn đầu tư xây dựng dự án đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam. Nhà nước có thể rót vốn, đặt hàng khu vực tư nhân (như dự án đường sắt) thay vì tự làm tất cả. Điều này giúp Nhà nước dùng nguồn lực tài chính để định hướng và thúc đẩy tư nhân phát triển theo chiến lược quốc gia.

Chúng ta cần lưu ý rằng, đầu tư vốn nhà nước trong hoạt động kinh tế không chỉ đơn thuần là để thu lại lợi nhuận hay tiền vốn nhiều hơn. Tất nhiên, nguyên tắc bảo toàn vốn thì đầu tư phải mang lại lợi ích cho nguồn lực kinh tế nhà nước. Nhưng cái quan trọng hơn cả là đầu tư để định hướng, để dẫn dắt, để lan tỏa. Đầu tư của Nhà nước phải tạo ra sự lôi kéo, thu hút các nguồn lực khác của xã hội đi theo định hướng mà Nhà nước mong muốn.

Đó chính là cách Nhà nước sử dụng sức mạnh kinh tế và tiềm lực kinh tế của mình để dẫn dắt sự phát triển của nền kinh tế, tạo lập một nền kinh tế theo định hướng chiến lược quốc gia. Đây được gọi là tạo nguồn lực kinh tế để đất nước tự chủ, tự cường.

1.jpg
Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) sẽ tái cơ cấu, tiến tới hình thành "Quỹ đầu tư quốc gia".

Phóng viên: Như Giáo sư vừa chia sẻ, chúng ta luôn đặt mục tiêu là “Đất nước tự chủ, tự cường”. Và Nghị quyết cũng xác định kinh tế nhà nước là nền tảng bảo đảm "tự chủ chiến lược" và "tự cường". Trong bối cảnh địa chính trị toàn cầu nhiều biến động, Giáo sư bình luận gì về nội dung mục tiêu trên của nền kinh tế Việt Nam thông qua Nghị quyết này?

GS, TS Hoàng Văn Cường: Rõ ràng là chúng ta mong muốn xây dựng một nền kinh tế, một quốc gia tự lực, tự cường, hùng mạnh, dựa trên một tiềm lực kinh tế tự chủ, vững mạnh nhưng lại hội nhập sâu rộng. Muốn làm được việc đó, phải có sự dẫn dắt, phải có những chỗ dựa vững chắc trong nước – những "bệ đỡ" quan trọng. Và cái chỗ dựa, cái sự dẫn dắt, cái sự mở đường đấy chính là nằm ở khu vực và nguồn lực của kinh tế nhà nước. Nghị quyết 79 là cuộc cách mạng trong tư duy, từ can thiệp, quản lý hành chính sang “trao quyền” doanh nghiệp nhà nước để “kiến tạo” nền kinh tế.

Kỳ vọng của chúng ta là Nghị quyết 79 sẽ tạo ra được những định hướng cho sự phát triển một nền kinh tế nhiều thành phần, khơi dậy được sức mạnh của tất cả các khu vực: từ tư nhân, nhà nước cho đến khu vực bên ngoài. Qua đó, chúng ta có thể khai thác được các nguồn lực một cách hiệu quả nhất, nhưng đồng thời vẫn tạo lập được một nền kinh tế độc lập, tự chủ theo đúng định hướng mà nhà nước đề ra.

Xin cảm ơn Giáo sư Hoàng Văn Cường!

Có thể bạn quan tâm