Chính lựa chọn quan trọng này đã đặt nền cho một nguyên tắc xuyên suốt 81 năm qua: coi con người là nguồn lực quyết định vận mệnh quốc gia. Từ phong trào Bình dân học vụ thuở lập nước đến những chủ trương, chính sách giáo dục toàn diện hôm nay, nguyên tắc đó luôn được kiên trì thực hiện bằng tư duy chiến lược nhất quán, dù không ít những thời điểm phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.
Bài 1: Từ diệt “giặc dốt” đến những chính sách đột phá
Năm học 2026-2027 bắt đầu cùng một loạt chính sách được triển khai đồng bộ: miễn học phí toàn quốc, miễn sách giáo khoa, giảm đầu mối trường lớp để nâng chất lượng dạy học, xây dựng trường liên cấp ở vùng biên giới. Đó không đơn thuần là những quyết sách chỉ cho một năm học, nếu đặt trong dòng chảy lịch sử, có thể nhận thấy đây là sự tiếp nối một mạch tư duy đã được nuôi dưỡng suốt 81 năm, kể từ ngày đất nước giành độc lập vào tháng 9/1945.
Một mạch chính sách kiên trì, bền bỉ
Tháng 9/1945, hơn 90% dân số nước ta không biết chữ. Ngân khố quốc gia gần như trống rỗng, nạn đói vừa cướp đi sinh mạng hàng triệu người, thù trong giặc ngoài bủa vây chính quyền cách mạng còn non trẻ. Trong hoàn cảnh ấy, việc dạy dân biết đọc, biết viết có thể xếp sau hàng loạt việc cấp bách hơn, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn một hướng đi dứt khoát. "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu" - Người nhấn mạnh tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3/9/1945, khi xếp việc chống nạn mù chữ vào hàng thứ hai trong sáu nhiệm vụ cấp bách, chỉ sau chống đói. Năm ngày sau, ngày 8/9, Nha Bình dân học vụ ra đời, phát động phong trào xóa mù chữ trên cả nước.
Kết quả chỉ sau một năm triển khai, phong trào đã mở gần 75.000 lớp học, huy động gần 96.000 người dạy không lương, giúp hơn 2,5 triệu người biết đọc, biết viết. Đến năm 1948, con số này tăng lên 6 triệu người; đến năm 1952, hơn 10 triệu người thoát nạn mù chữ, cơ bản hoàn thành mục tiêu chỉ sau bảy năm. Năm 1959, các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng và trung du miền bắc hoàn thành xóa mù chữ cho người dân trong độ tuổi 12-50; đến hết kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), các vùng thấp ở miền núi phía bắc cũng xóa xong nạn mù chữ cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Khi ấy cả nước chỉ có khoảng 22 triệu dân, ngân sách mỗi tỉnh chỉ đủ trả lương vài chục giáo viên, nên phải trông cậy vào sức dân: người biết chữ dạy người chưa biết, viết bằng phấn trên nền đất khi thiếu giấy bút. Kết quả đạt được thực sự là một kỳ tích.
Lựa chọn của Đảng ta xuất phát từ một nhận thức rõ ràng: một dân tộc vừa giành độc lập sẽ khó có thể tự quyết định vận mệnh của mình nếu phần lớn người dân không đọc, viết được tên nước. Độc lập chính trị, nếu không đi cùng nâng cao dân trí, sẽ là một nền độc lập mong manh.
Tinh thần đó được nối dài suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Giữa bom đạn mù trời, các lớp học vẫn được duy trì mọi lúc, mọi nơi: trong hầm tối, trong hang đá, trong những mái trường sơ tán giữa tán lá rừng. Nhiều thế hệ học sinh miền bắc những năm chống Mỹ học chữ dưới ánh đèn dầu, cặp sách kèm theo mũ rơm chống mảnh bom. Giáo dục được duy trì song song với cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, như một cách khẳng định rằng đất nước, dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn ưu tiên các công việc kiến tạo tương lai.
Sau ngày đất nước thống nhất, giáo dục tiếp tục được đặt vào trung tâm công cuộc tái thiết, dù khi đó đất nước phải trải qua chiến tranh biên giới, chịu cấm vận, kinh tế lâm vào khủng hoảng kéo dài. Tháng 1/1979, giữa bối cảnh vô cùng khó khăn, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW về cải cách giáo dục, đặt nền móng cho hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm, chia hai bậc học: phổ thông cơ sở từ lớp 1 đến lớp 9, phổ thông trung học từ lớp 10 đến lớp 12, triển khai từ năm học 1981-1982. Đây là cuộc cải cách quy mô lớn đầu tiên sau ngày thống nhất, cho thấy dù ngân sách eo hẹp, chủ trương xây dựng lại một nền giáo dục thống nhất trên cả nước vẫn không thể bị trì hoãn.
Bước sang thời kỳ Đổi mới, phổ cập giáo dục được luật hóa và triển khai bài bản hơn. Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991 tạo cơ sở pháp lý cho một chương trình quốc gia. Đến năm 2000, cả nước đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, với 98% số quận, huyện và hơn 98% số xã, phường được công nhận. Một thập kỷ sau, năm 2010, toàn bộ 63 tỉnh, thành phố khi đó đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Đó là những cột mốc có ý nghĩa lớn, thu hẹp dần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa miền xuôi và miền núi, điều mà nhiều thập kỷ trước đó vẫn còn có những khoảng trống.
Cũng trong giai đoạn đất nước mở cửa, chuyển sang cơ chế thị trường, giáo dục được "cởi trói" theo hướng đa dạng hóa loại hình trường lớp, khuyến khích xã hội hóa để huy động thêm nguồn lực bên cạnh ngân sách nhà nước. Với một quốc gia còn nghèo, vừa ra khỏi cơ chế bao cấp, đó là lựa chọn hợp lý và cần thiết.
Ngày 4/11/2013, Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được ban hành, đặt yêu cầu chuyển nền giáo dục từ chỗ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Đây là một cột mốc quan trọng về tư duy, đặt nền móng cho chương trình giáo dục phổ thông mới sau đó. Tuy nhiên, giữa mục tiêu đặt ra và điều kiện thực tế trong mỗi lớp học vẫn còn không ít vướng mắc, từ chất lượng đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, cho tới gánh nặng chi phí học tập mà phụ huynh phải gánh vác hằng năm.
Thay đổi mạnh mẽ về tư duy
Nếu Nghị quyết 29 mười hai năm trước đặt trọng tâm "đổi mới căn bản, toàn diện", thì đến nay, mạch tư duy ấy được đẩy lên một nấc mới. Ngày 22/8/2025, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Nhiều chuyên gia đánh giá đây là văn kiện mang tính đột phá mạnh mẽ nhất từ trước đến nay trong lĩnh vực này, thậm chí ví như một cuộc cách mạng mới. Điểm mới thể hiện ở chỗ: lần đầu tiên, hàng loạt chủ trương từng nằm rải rác qua nhiều văn kiện, nhiều giai đoạn, được xây dựng thành một hệ thống giải pháp đồng bộ, có lộ trình cụ thể, có nguồn lực bảo đảm và có mốc thời gian rõ ràng để đo lường kết quả, với các mốc năm 2030, 2035 và tầm nhìn 2045, ngành giáo dục nước ta đặt mục tiêu lọt nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới.
Nghị quyết 71 tiếp tục khẳng định giáo dục và đào tạo, cùng với khoa học và công nghệ, là quốc sách hàng đầu, đi kèm những cam kết cụ thể: Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt bằng đầu tư công trực tiếp, bảo đảm đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên; xã hội được tạo điều kiện tham gia đóng góp nguồn lực và giám sát quá trình thực hiện. Nghị quyết cũng đặt định hướng cho một nền giáo dục vận hành trên nền tảng số: tích hợp dữ liệu lớn, phát triển sách giáo khoa điện tử, xây dựng trường học thông minh, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dạy học và đánh giá.
Năm học 2025-2026, ngành Ggáo dục đã nỗ lực vượt qua khó khăn, tiếp tục đổi mới chương trình, phương pháp và quản trị, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các cấp học, thúc đẩy tự chủ đại học, giáo dục nghề nghiệp, nghiên cứu khoa học, chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Điều kiện học tập tiếp tục được cải thiện, người học và nhà giáo ở những địa bàn khó khăn được hỗ trợ đầy đủ hơn.
Sau một năm triển khai thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị, nhiều chủ trương đột phá về giáo dục và đào tạo đã được thể chế hóa và từng bước đi vào cuộc sống. Luật Nhà giáo cùng các chính sách mới về học phí, sách giáo khoa và chế độ đối với nhà giáo thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đối với sự nghiệp trồng người.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm
Đáng chú ý là tốc độ thể chế hóa sau khi nghị quyết được ban hành. Thông thường, một chủ trương ở tầm Bộ Chính trị cần nhiều năm để "ngấm" xuống thành chính sách cụ thể, rồi mới đến giai đoạn triển khai. Lần này thì khác: chuỗi văn bản cụ thể hóa ban hành chỉ trong vài tháng. Ngày 28/2/2025, Bộ Chính trị quyết định thực hiện miễn toàn bộ học phí cho học sinh từ mầm non đến hết trung học phổ thông công lập trên phạm vi cả nước. Ngày 16/6/2025, Quốc hội thông qua Luật Nhà giáo, đạo luật chuyên ngành đầu tiên quy định đầy đủ vị trí pháp lý, quyền, nghĩa vụ và chính sách cho đội ngũ nhà giáo, trong đó lương nhà giáo được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp. Mười ngày sau, ngày 26/6, với 440 trong 441 đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội thông qua nghị quyết miễn, hỗ trợ học phí cho trẻ mầm non và học sinh phổ thông cả nước, không phân biệt công lập, dân lập hay tư thục, cùng một nghị quyết khác về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 3-5 tuổi, mục tiêu 100% tỉnh, thành đạt chuẩn vào năm 2030.
Ngày 3/9/2025, đúng dịp khai giảng, Chính phủ ban hành Nghị định số 238/2025/NĐ-CP quy định chi tiết, đơn giản hóa thủ tục đến mức phụ huynh không cần nộp đơn xin miễn giảm mà dùng dữ liệu điện tử sẵn có từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Ngày 10/12/2025, Quốc hội tiếp tục thông qua ba đạo luật: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, Luật Giáo dục nghề nghiệp và Luật Giáo dục đại học, cùng nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù cho đột phá giáo dục và nghị quyết đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa giáo dục giai đoạn 2026-2035, tất cả có hiệu lực từ ngày 1/1/2026. Như vậy, chỉ chưa đầy một năm, từ một nghị quyết của Đảng, cả một hệ thống luật, nghị định, chương trình mục tiêu quốc gia đã được hoàn thiện.
Cùng với đó là sự thay đổi trong cách nhìn nhận bản chất của chính sách. Trong nhiều năm, các khoản hỗ trợ học phí, sách vở thường được coi như một dạng phúc lợi xã hội từ phía Nhà nước để giảm bớt khó khăn tức thời cho người dân. Cách hiểu ấy tuy không sai, nhưng chưa đủ để lý giải quy mô nguồn lực đang được huy động hiện nay.
Đại biểu Quốc hội Trần Quốc Tuấn, hiện nay là đại biểu tỉnh Vĩnh Long (trước đây thuộc Đoàn đại biểu tỉnh Trà Vinh), nhận định đây không đơn thuần là một chính sách kinh tế - xã hội mang tính hỗ trợ, mà là một chiến lược đầu tư dài hạn cho nguồn nhân lực quốc gia. Để khoản đầu tư ấy phát huy hiệu quả thực chất, chính sách cần thiết kế đúng đối tượng, đủ mức hỗ trợ, trúng vào những nơi thật sự cần đến. Chính sách phổ cập giáo dục của Đảng, Nhà nước ta hướng tới mục tiêu bảo đảm mọi trẻ em đều được đến trường và có cơ hội học tập, một mục tiêu mà hiện mới có 38 quốc gia trên thế giới làm được ở bậc học mầm non, phần lớn là các nước có thu nhập cao.
Những con số cụ thể đã minh chứng cho sự chuyển dịch này. Riêng năm học 2025-2026, ngân sách nhà nước dành cho việc miễn, hỗ trợ học phí đối với trẻ mầm non 5 tuổi, học sinh tiểu học và trung học cơ sở đã lên tới khoảng 22.500 tỷ đồng; nếu tính chung cho toàn bộ bậc học phổ thông, tổng mức đầu tư ước khoảng 30.600 tỷ đồng mỗi năm. Đây là mức chi chưa từng có trong lịch sử ngành giáo dục. Quan trọng hơn các con số là cách khoản tiền này được thiết kế để vận hành: không phải một gói hỗ trợ nhất thời, mà là một dòng ngân sách thường xuyên, có cơ chế bảo đảm lâu dài, trong đó ngân sách trung ương đứng ra hỗ trợ những địa phương chưa tự cân đối được nguồn lực, để chính sách không bị giới hạn bởi năng lực tài chính khác nhau giữa các tỉnh, thành.
Những quyết sách này được ban hành vào thời điểm đất nước tái cấu trúc bộ máy quản trị theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chính thức vận hành từ ngày 1/7/2025 với 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh và 3.321 đơn vị hành chính cấp xã. Một bộ máy vận hành tinh gọn hơn, đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực cao hơn để đảm đương khối lượng công việc lớn hơn trên mỗi vị trí. Trên tinh thần đó, cải cách giáo dục không đứng riêng lẻ, mà là một mắt xích trong tổng thể quá trình tái cấu trúc quốc gia đang diễn ra đồng thời trên nhiều lĩnh vực khác nhau, từ tinh gọn bộ máy, chuyển đổi số, cho đến tái cơ cấu nguồn nhân lực.
Nhìn lại chặng đường 81 năm, có thể thấy mỗi khi đất nước đứng trước một bước ngoặt lớn: giành độc lập, thống nhất đất nước, mở cửa hội nhập, và nay là bước vào một giai đoạn phát triển mới với nhiều đổi thay về mô hình quản trị, giáo dục luôn được lựa chọn như một khâu đột phá. Sự khác biệt của giai đoạn hiện nay nằm ở quy mô nguồn lực, tốc độ thể chế hóa và mức độ đồng bộ giữa các chính sách, những yếu tố đã vượt xa các giai đoạn trước đây.
(Còn nữa)