Giải quyết tận gốc điểm nghẽn của ngành sầu riêng

Sầu riêng đang là ngành hàng chủ lực trong mục tiêu chinh phục mốc 10 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Tuy nhiên, phía sau đà tăng trưởng nóng là hàng loạt áp lực ngày càng lớn về bảo đảm chất lượng, đáp ứng đầy đủ những yêu cầu của thị trường nhập khẩu, quản lý mã số vùng trồng…

Ảnh minh họa. (Ảnh: NGUYỄN SỰ)
Ảnh minh họa. (Ảnh: NGUYỄN SỰ)

Tìm giải pháp tháo gỡ nhanh chóng những hạn chế này là yêu cầu cấp bách để tạo dựng sức bền cho xuất khẩu.

"Lỗ hổng" sản xuất

Ông Trần Văn Hè, một hộ trồng sầu riêng tại ấp Mỹ Tường A, xã Hậu Mỹ (Đồng Tháp) cho biết: Khó khăn lớn nhất hiện nay với nông dân không phải là đầu ra sản phẩm mà là có tham gia được vào chuỗi xuất khẩu chính ngạch hay không. Nguyên nhân chính là thiếu mã số vùng trồng. Gia đình tôi có 7 công đất trồng sầu riêng, với diện tích này không đáp ứng điều kiện để được cấp mã số vùng trồng. Tuy nhiên, việc liên kết các hộ dân để hình thành vùng nguyên liệu chung có diện tích đủ lớn để đăng ký mã số lại không dễ bởi nhiều hộ vẫn quen làm riêng và bán cho thương lái.

Trong khi đó, bà Phan Thị Phước canh tác 2ha sầu riêng ở xã Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk cho rằng, phần lớn các vườn sầu riêng hiện nay vẫn được chăm sóc chủ yếu bằng kinh nghiệm cá nhân thay vì quy trình kỹ thuật thống nhất.

“Mỗi nhà làm một kiểu, thông qua các hình thức học hỏi lẫn nhau, theo hướng dẫn của đại lý vật tư hoặc đơn giản là tự rút kinh nghiệm qua từng vụ. Chính vì vậy, hiệu quả kinh tế không đồng đều, có năm được mùa, năm mất mùa vì thời tiết, sâu bệnh hoặc xử lý kỹ thuật chưa đúng”, bà Phước chia sẻ.

Thực trạng sản xuất của các hộ nông dân như ông Hè hay bà Phước phản ánh đúng điểm nghẽn lớn của ngành sầu riêng là xuất khẩu đã bước vào “sân chơi” tỷ USD nhưng nền tảng tổ chức sản xuất vẫn rất manh mún, nhỏ lẻ, chủ yếu “mạnh ai nấy làm”, chưa có định hướng, quy trình chuẩn. Điều này dẫn đến tình trạng sầu riêng dù có thời điểm xuất khẩu khởi sắc nhưng nhiều mùa vụ lại ế hàng, “dội chợ” do chất lượng không đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu.

Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, quý I/2026, xuất khẩu sầu riêng của Việt Nam đạt gần 222 triệu USD, tăng 127,8% so với cùng kỳ song vẫn đối mặt với nhiều rủi ro. Mới đây nhất, hiện tượng sầu riêng bị ách tắc ở khâu kiểm nghiệm chất cadimi ngay từ địa phương một lần nữa lại đặt ngành hàng này vào cấp “báo động” về quy trình thực hiện thủ tục xuất khẩu.

Về mã số vùng trồng, ngoài việc chưa “phủ sóng” trên diện tích rộng thì vẫn còn tình trạng mã số sau khi được cấp không duy trì đúng yêu cầu từ phía nhập khẩu dẫn đến bị đình chỉ hoặc thu hồi.

Giải quyết tận gốc những điểm nghẽn

Ông Nguyễn Văn Mười, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho rằng, để phát triển bền vững ngành hàng sầu riêng thì không thể cứ chạy theo giải quyết sự vụ mà phải có chiến lược, lộ trình rõ ràng, thực hiện giải quyết căn cơ từ gốc những hạn chế, vướng mắc.

Đơn cử, hiện tượng nhiễm cadimi không thể nhìn nhận như một sự cố riêng lẻ. Cadimi có thể tồn tại trong đất, nguồn nước, phân bón hoặc tích tụ qua quá trình canh tác. Thực tế hiện nay nông dân hoàn toàn có thể tiếp cận các thiết bị đo cơ bản hoặc mang mẫu đất đi xét nghiệm nhưng điều quan trọng là phải có hướng dẫn kỹ thuật chuẩn từ cơ quan chuyên môn bởi nếu không thì kết quả xét nghiệm có thể không phản ánh đúng thực trạng.

Việc này cần được thực hiện thường xuyên và chủ động nhằm xác định sớm những yếu tố có nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Khi phát hiện, cơ quan quản lý và người sản xuất có giải pháp xử lý sớm thay vì đợi đến khi nước nhập khẩu đưa ra cảnh báo, yêu cầu mới bắt đầu khắc phục.

Đối với vấn đề mã số vùng trồng, ông Lương Thanh Minh, Phó Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp xanh Krông Pắc (Đắk Lắk) cho biết, dù hợp tác xã hiện có hơn 200ha sầu riêng nhưng mới chỉ hoàn thiện hồ sơ cho hai mã số vùng trồng với diện tích khoảng 30ha và đang chờ phía Trung Quốc phê duyệt. Việc vận động các thành viên tham gia làm mã số vùng trồng gặp nhiều khó khăn bởi ngay cả khi chưa có mã số vùng trồng thì sầu riêng vẫn bán được, trong khi làm mã số lại phát sinh thêm yêu cầu kỹ thuật, tài chính mà giá bán chưa có sự chênh lệch.

Tuy vậy, để hướng tới phát triển bền vững và ổn định đầu ra lâu dài, các hợp tác xã vẫn nên chủ động hỗ trợ người dân từ hướng dẫn quy trình, hoàn thiện thủ tục đến chi trả chi phí cấp mã nhằm khuyến khích các hộ tham gia.

Cùng nỗ lực kiểm soát mã số vùng trồng tại nhiều địa phương, hợp tác xã, tháng 1/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/2026/NĐ-CP quy định về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói nhằm siết chặt quản lý, nâng cao chất lượng nông sản xuất khẩu.

Theo Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung, đầu tháng 5/2026, Bộ đã có văn bản thống nhất một số nội dung triển khai Nghị định số 38/2026/NĐ-CP, trong đó có quy định về danh mục mã tỉnh; danh mục mã các nước và nguyên tắc sử dụng; danh mục mã cây trồng; chuyển đổi các mã số theo quy định tại Nghị định số 38/2026/NĐ-CP,… Bên cạnh đó, Bộ cũng sẽ tiến hành thiết lập, công khai cơ sở dữ liệu về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

Những động thái này đang từng bước tạo nền tảng cho việc số hóa quản lý mã số vùng trồng và tăng cường truy xuất nguồn gốc điện tử, kỳ vọng góp phần quan trọng giải quyết tận gốc những điểm nghẽn trọng yếu, kéo dài của ngành hàng sầu riêng suốt thời gian qua.

Có thể bạn quan tâm