Giải pháp phát triển ngành chăn nuôi bò sữa

Thực trạng chăn nuôi bò sữa

Nhìn tổng thể, sau khi có Quyết định số 167 của Thủ tướng Chính phủ về "Một số biện pháp và chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa thời kỳ 2001-2010", cùng với những chính sách hỗ trợ riêng của địa phương, đàn bò sữa tăng nhanh ( 24,9%/năm), các tỉnh phía bắc tăng 43,7%, các tỉnh phía nam là 22,1%/năm. Nếu như năm 2001, đàn bò sữa cả nước có 41,1 nghìn con thì đến năm 2005 đạt 104,1 nghìn con (vượt kế hoạch đề ra là 100 nghìn con); trong đó số bò sữa ở các tỉnh phía bắc chiếm 25,3%, các tỉnh phía nam chiếm 74,7%. Số lượng bò sữa tập trung chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ (61,4%) và đồng bằng sông Hồng: 11,5 %. Đàn bò sữa của nước ta chủ yếu là bò lai HF, được lai tạo trong nước (chiếm 84,6% tổng đàn), bò thuần HF và bò ngoại chiếm 15,4% tổng đàn.  Năng suất của bò sữa đã được nâng lên do chất lượng giống được cải thiện và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới (chuồng trại, thụ tinh nhân tạo, chăm sóc, dinh dưỡng).

Theo số liệu thống kê của Cục Chăn nuôi, hiện cả nước có 19.639 hộ chăn nuôi bò sữa, bình quân mỗi hộ nuôi 5,3 con; trong đó phía nam có 12.626 hộ, với quy mô trung  bình 6,3 con/hộ, còn phía bắc có 7.013 hộ, quy mô chỉ 3,7 con/hộ. Có 384 hộ gia đình và công ty chăn nuôi quy mô đàn từ 20 con trở lên (chiếm 1,95%). Tổng sản lượng sữa của cả nước sản xuất ra năm 2005 đạt 197,7 nghìn tấn, đáp ứng được khoảng 22% nhu cầu tiêu thụ trong nước.

Tuy nhiên, từ cuối năm 2004, đàn bò sữa có xu hướng chững lại và giảm sút về số lượng. Sáu tháng đầu năm 2006, đàn bò sữa giảm 1.000 con, còn lại 106.355 con. Ở phía bắc, 16/16 tỉnh đều giảm đàn bò sữa, từ chỗ tăng 43,7%/năm, nay giảm xuống 16,8%; phía nam, sáu trong 17 tỉnh có Chương trình bò sữa giảm số lượng. Ngay cả những tỉnh có truyền thống chăn nuôi bò sữa  lâu nay cũng giảm đàn như Sơn La, Hà Tây, Hà Nội, Lâm Đồng, Bình Dương, Đồng Nai. Chỉ còn một số địa phương như TP Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Tây Ninh, Quảng Ninh... có lợi thế gần nhà máy chế biến, có nguồn phụ phẩm nông, công nghiệp, người chăn nuôi lại có kinh nghiệm chăn nuôi bò sữa, có hệ thống dịch vụ, kỹ thuật thú y tốt, nên đàn bò sữa tăng lên. Nguyên nhân chính của hiện tượng đàn bò giảm là do giá thành sữa cao, giá thu mua sữa thấp, trong khi giá thức ăn chăn nuôi năm 2005 tăng 5%, trong sáu tháng đầu năm 2006 tăng 6,3%. Vì vậy hiệu quả chăn nuôi bò sữa thấp. Ngoài ra còn một nguyên nhân quan trọng nữa là giá giống bò sữa hậu bị cần bán để thu hồi vốn giảm, còn 7-13 triệu đồng/con (giảm gần một nửa so với trước) và nhiều trường hợp không bán được.

Theo tính toán của các trang trại, giá thành sữa tươi bình quân là 3.487 đồng/kg (chủ yếu dao động từ 2.810 đến 4.410 đồng/kg) trong khi giá sữa thu mua tại nhà máy từ 3.800 đến 4.200 đồng/kg (Giá thu mua sữa ở Việt Nam đang ở mức thấp nhất so với các nước trong khu vực). Chi phí vận chuyển từ trại chăn nuôi đến nhà máy và bảo quản lạnh cho mỗi kg sữa hết 250-300 đồng. Trừ chi phí, mỗi con bò sữa cho lợi nhuận trung bình 251 nghìn đồng/năm. Tuy nhiên, lợi nhuận của chăn nuôi bò sữa còn phụ thuộc vào năng suất sữa, quy mô và kinh nghiệm chăn nuôi. Nhưng trên thực tế, 33 tỉnh tham gia Chương trình bò sữa, chỉ có 10 tỉnh có kinh nghiệm, năng suất sữa đạt 3,2-4,1 tấn/chu kỳ đối với bò lai và 3,8-4,6 tấn/chu kỳ đối với bò thuần HF. Còn lại 23 tỉnh mới nuôi bò sữa trong khoảng 3-6 năm gần đây, chưa có kinh nghiệm về dinh dưỡng thức ăn cho bò sữa nên khẩu phần ăn mất cân đối, nhất là ở bò sữa cao sản đã ảnh hưởng hiệu quả chăn nuôi.

Khi bắt đầu khởi động chương trình, một số tỉnh chăn nuôi theo kiểu "rải mành mành", phân bổ mỗi hộ nuôi một, hai con, phát triển bò sữa mang tính phong trào. Thậm chí, đã nhập khẩu ồ ạt bò giống thuần  về nuôi trong khi chưa đánh giá đầy đủ điều kiện địa lý, khí hậu có phù hợp hay không, chưa chuẩn bị kỹ lưỡng cơ sở hạ tầng (kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng, thú y, hệ thống dịch vụ liên quan). Phong trào bị đẩy lên quá nhanh, quá nóng làm cho cung, cầu giống về bò sữa chênh lệch nhau. Giá con giống từ 11 đến 14 triệu đồng (năm 2000) tăng lên 19 - 24 triệu đồng/con (năm 2003). Việc "sốt" giống bò sữa đã làm tăng chi phí khấu hao con giống trong cơ cấu giá thành sữa. Các hộ nông dân và địa phương mới nuôi bò sữa thiếu kinh nghiệm chăn nuôi, lại do mua con giống đắt, làm tăng chi phí đầu vào, chăn nuôi không hiệu quả, bị thua lỗ, một số nơi chán chường không chăm sóc bò sữa, nên đàn bò ở các địa phương này gầy yếu, giảm đàn, như ở Hưng Yên, Thái Bình, Ninh Thuận, Nghệ An, Phú Yên, Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Trà Vinh. Đồng thời, khi tình hình chăn nuôi bò sữa kém hiệu quả như vậy, giá giống đã quay trở lại giá trị đích thực của nó, làm cho người chăn nuôi bò sữa trước đây vì mục tiêu giống  đã không trả được vốn.

Vấn đề tập huấn cho người chăn nuôi chuẩn bị chưa thật chu đáo, nên trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng không bảo đảm, trong khi hệ thống dịch vụ kỹ thụât và thú y ở nhiều nơi còn thiếu, ảnh hưởng năng suất và chất lượng sữa. Theo tiến sĩ Hoàng Kim Giao, Phó Cục trưởng Chăn nuôi: "Bò sữa là con vật khó nuôi, đồng thời sản phẩm sữa của nó cũng dễ hỏng". Trường hợp khác, bò sữa có chất lượng tốt, nhưng do người chăn nuôi chưa chăm sóc tốt nên nó bị bệnh làm giảm năng suất sữa. Một trong những khó khăn nữa là nhiều địa phương chưa bảo đảm đủ số lượng và chất lượng thức ăn thường xuyên. Người chăn nuôi chưa có kinh nghiệm về dinh dưỡng cho bò sữa nên khẩu phần ăn mất cân đối, nhất là bò sữa cao sản đã ảnh hưởng  hiệu quả chăn nuôi. Thí dụ, cùng một giống bò HF nhập từ Ô-xtrây-li-a nuôi tại hộ chăn nuôi có kinh nghiệm lâu năm ở Mộc Châu (Sơn La) cho năng suất trung bình 15,6 kg sữa/ngày, trong khi đó tại các hộ mới nuôi ở huyện Mai Sơn do thiếu kinh nghiệm, cho năng suất quá thấp (dưới 10 kg sữa/ngày) không có hiệu quả nên phải chuyển đi nơi khác. Tại Tuyên Quang, khi có đủ thức ăn, năng suất các lứa đạt từ 13,9 kg sữa/ngày đến 16,8 kg sữa/ngày, nhưng khi thiếu thức ăn bò chỉ đạt khoảng 10 kg/ngày, kết quả là thua lỗ.  Hệ thống thu mua và bảo quản sữa còn rất hạn chế ở các vùng mới phát triển chăn nuôi bò sữa. Việc mua sữa ở các vùng xa chưa bảo đảm. Việc kiểm tra chất lượng sữa để phân loại trả tiền chưa khách quan, chủ yếu lệ thuộc vào các công ty thu mua, chế biến sữa. Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tây Nguyễn Huy Đăng: "Cùng với giá thức ăn tăng, yêu cầu chất lượng đầu vào của các nhà máy sữa rất cao so với thực tiễn chăn nuôi cũng là một trở ngại lớn trong việc phát triển đàn bò sữa".

Giải pháp

Để giúp ngưòi chăn nuôi bò sữa vượt qua khó khăn, tiếp tục phát triển đàn bò sữa, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP Hồ Chí Minh Nguyễn Phước Thảo nêu kinh nghiệm: "Cần có biện pháp giảm chi phí thức ăn chăn nuôi, các chi phí trung gian không cần thiết, khai thác hiệu quả các nguồn thu từ việc bán giống, tận dụng nguồn chất thải và tăng giá thu mua sữa cho nông dân". Còn ở Hà Tây, ngoài những chính sách hỗ trợ con giống, trồng cỏ, vắc-xin phòng bệnh, tỉnh đã chủ động xây dựng 14 trạm thu mua, tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty thu mua sữa. Theo Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vang, Cục trưởng Chăn nuôi: "Giải pháp quan trọng là Nhà  nước cần  xác lập cơ chế thu mua sữa hợp lý, với hình thức Nhà nước, doanh nghiệp chế biến và nông dân cùng thỏa thuận, quyết định giá sữa phù hợp, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa nhà chế biến sữa và người nông dân". Bên cạnh đó, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về giống, điều kiện, quy mô chăn nuôi, hệ thống thu mua sữa và tập huấn kỹ thuật... Cụ thể, các địa phương tiến hành thống kê, đánh giá, chọn lọc lại đàn bò sữa, kiên quyết loại thải những con giống kém chất lượng, quy hoạch thành từng vùng chăn nuôi bò sữa (vừa thuận lợi cho việc tổ chức các dịch vụ thú y, thức ăn, trao đổi giống, vừa là nơi để nông dân học hỏi kinh nghiệm và hình thành những tổ hợp tác). Cần thu hẹp diện phát triển bò sữa, tập trung vào các vùng thuận lợi về khí hậu, thức ăn, nhất là thức ăn thô xanh, trình độ kỹ thuật của người nuôi tương đối tốt; đồng thời, có chính sách về vốn cho các hộ nông dân mở rộng quy mô chăn nuôi và  trợ giúp kỹ thuật thông qua đào tạo kiểu mẫu.

Có thể bạn quan tâm