Nguồn lực thiếu, sử dụng chưa hợp lý
Chiến lược phát triển YDHCT giai đoạn đến năm 2010 đã chỉ ra những bất cập của công tác YDHCT: "Ðội ngũ thầy thuốc chuyên sâu về YDHCT đang mỏng dần, trong khi đó việc sử dụng chưa hợp lý. Nhiều địa phương bố trí bác sĩ YDHCT làm chuyên khoa khác, ngược lại có địa phương lại bố trí cán bộ không có trình độ chuyên môn YDHCT theo dõi và hoạt động trong lĩnh vực YDHCT...".
Theo báo cáo của 41/64 sở y tế tỉnh, thành phố, mới có ba sở y tế có phòng quản lý YDHCT; 20/41 sở y tế có chuyên viên chuyên trách YDHCT; 21/41 sở y tế có chuyên viên y học cổ truyền ban chuyên trách. Ðội ngũ chuyên sâu y học cổ truyền mỏng, nhiều nơi chưa có cán bộ chuyên môn về YDHCT; trang thiết bị dụng cụ y tế phục vụ cho công tác chữa bệnh bằng y học cổ truyền vừa thiếu, cũ, lạc hậu và đang xuống cấp nghiêm trọng. Nhiều tỉnh, số cán bộ y học cổ truyền có trình độ chưa nhiều, như: Quảng Trị, Quảng Bình, Ðác Nông, Kon Tum... Trong khi đó, số cán bộ có trình độ cao phần lớn tập trung tại các viện, bệnh viện T.Ư đầu ngành. Các nguồn lực đáp ứng cho hoạt động y tế nói chung, y học cổ truyền nói riêng còn thấp so với nhu cầu ngày càng cao của nhân dân về chăm sóc, bảo vệ sức khỏe.
Từ thực trạng nguồn nhân lực YDHCT ở các tuyến thiếu và yếu do đó tỷ lệ người bệnh được khám, chữa bệnh YDHCT còn thấp so với chỉ tiêu Chính sách quốc gia về YDHCT đề ra. Cũng theo báo cáo của 41/64 sở y tế thì, tỷ lệ người bệnh khám và điều trị bằng y học cổ truyền tại tuyến tỉnh (so với số lần khám và điều trị chung) đạt 11,2% (chỉ tiêu chính sách quốc gia là 20%); tuyến huyện đạt 11,8% (chỉ tiêu là 25%); tuyến xã, phường đạt 18% (chỉ tiêu là 40%). Với nhịp độ đào tạo mỗi năm hơn 100 bác sĩ như hiện nay, chúng ta chưa đáp ứng được nhu cầu y, bác sĩ YDHCT; nhất là nhu cầu lớn về y sĩ y học cổ truyền cho tuyến xã, phường, thị trấn, hiện nay mới có gần ba nghìn bác sĩ YDHCT trên nhu cầu 7.410 bác sĩ. Tình trạng này diễn ra phổ biến ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Theo quy định, mỗi tỉnh phải có một bệnh viện y học cổ truyền với 30 bác sĩ, y sĩ và mỗi bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh có một khoa y học cổ truyền với năm bác sĩ. Như vậy, nhu cầu hiện nay ở tuyến tỉnh, thành phố cần ít nhất hơn ba nghìn người; 800 bệnh viện tuyến huyện cần khoảng hơn bốn nghìn người; 54 trường trung học y tế cần khoảng 300 người và tuyến xã cần 11 nghìn người, nhưng hiện nay mới có khoảng hơn năm nghìn người. Trong khi đó, hệ thống, quy mô đào tạo chưa phù hợp, trường lớp đào tạo cán bộ YDHCT thiếu, hằng năm chỉ tiêu chiêu sinh ít, cho nên số ra trường không bù đắp đủ số cán bộ đến tuổi về hưu.
Chia sẻ những khó khăn trên, lãnh đạo Sở Y tế Tiền Giang cho biết: Trước đây Trường trung học y tế Tiền Giang có mã đào tạo y sĩ y học cổ truyền, nhưng những năm gần đây sinh viên chuyên ngành này ra trường phần lớn không có việc làm, cho nên trường không đào tạo y sĩ y học cổ truyền, dẫn đến tình trạng thiếu cán bộ chuyên môn về y học cổ truyền, nhất là tại trạm y tế xã. Chi hội Ðông y cử cán bộ làm công tác khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền tại trạm y tế xã, nhưng vì chưa có biên chế và chính sách ưu đãi, cho nên không giữ được thầy thuốc giỏi phục vụ tại trạm y tế.
Còn Sở Y tế tỉnh Sóc Trăng, theo Phó Giám đốc, BS Phạm Văn Ðẳng cho biết: Ngân sách đầu tư cho công tác YDHCT của tỉnh chưa đủ đáp ứng nhu cầu hoạt động, cho nên thiếu cán bộ chuyên trách YDHCT từ tỉnh đến y tế cơ sở. Phần lớn các trạm y tế xã chưa triển khai được công tác khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền.
Thực hiện chính sách đồng bộ trong đào tạo
BS Lục Văn Quý (Phó Giám đốc Sở Y tế Cao Bằng) kiến nghị: Ðối với các tỉnh miền núi, Bộ Y tế xem xét nghiên cứu kế hoạch phân bổ chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo cán bộ y học cổ truyền chính quy phù hợp từng vùng, miền; đặc biệt ưu tiên cho các tỉnh miền núi. Nên đưa công tác YDHCT thành một trong những chương trình mục tiêu y tế quốc gia. Cần có cơ chế bổ sung nguồn nhân lực về YDHCT và có nguồn ngân sách riêng cho hoạt động YDHCT. Ðiều chỉnh tăng thu nhập và có cơ chế chính sách hợp lý cho cán bộ YDHCT. Có chính sách thu hút cán bộ YDHCT về công tác tại địa phương. Bên cạnh đó, cần tăng cường đào tạo bác sĩ y học cổ truyền chính quy và duy trì đào tạo bác sĩ y học cổ truyền chuyên tu hệ bốn năm, mở nhiều lớp về chuyên ngành điều dưỡng y học cổ truyền.
Trước mắt bổ túc bồi dưỡng nghiệp vụ điều dưỡng đa khoa làm điều dưỡng tại các cơ sở khám, chữa bệnh của y học cổ truyền và tăng cường đào tạo đội ngũ y sĩ chuyên khoa y học cổ truyền. Xây dựng và ban hành chính thức danh mục bệnh y học cổ truyền tương ứng y học hiện đại và hướng dẫn quy trình điều trị mang tính thống nhất cao. Hoàn thiện đội ngũ y tế thôn, bản để các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có thể tới gần người dân hơn, nhất là vùng sâu, vùng xa, miền núi, vùng nghèo có nhiều khó khăn.
Tập trung củng cố, hoàn thiện tổ chức các khoa, bộ môn y học cổ truyền tại các cơ sở đào tạo, đặc biệt là đại học và sau đại học. Cần rà soát, thống nhất chuẩn chương trình đào tạo mỗi bậc học cho phù hợp yêu cầu đào tạo mới với chất lượng ngày càng cao. Tăng cường hợp tác quốc tế với các quốc gia có hoàn cảnh kinh tế, văn hóa tương tự về đào tạo và nghiên cứu khoa học y học cổ truyền. Có cơ chế, chính sách phù hợp để triển khai có hiệu quả Chiến lược quốc gia về YDHCT như: Quy định về nhân lực, số giường bệnh y học cổ truyền trong các bệnh viện đa khoa, đầu tư kinh phí, nâng cao chất lượng trang thiết bị; bổ sung các chỉ tiêu về khám, chữa bệnh và sử dụng thuốc y học cổ truyền ở các tuyến.
| Hiện nay cả nước có năm viện nghiên cứu; 80% số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, 65% số bệnh viện đa khoa tuyến huyện có khoa hoặc tổ dược học cổ truyền (YDHCT). Có 25 giáo sư, 30 phó giáo sư, 35 tiến sĩ, 100 thạc sĩ, 100 bác sĩ chuyên khoa II, 500 bác sĩ chuyên khoa I và 40 bác sĩ nội trú chuyên khoa y học cổ truyền. Tổng số bác sĩ YDHCT là 2.758 bác sĩ và y sĩ YDHCT hơn năm nghìn y sĩ. Hơn 10 nghìn cơ sở YDHCT tư nhân. Tổng số giường bệnh cho YDHCT chiếm 7,67% tổng số giường bệnh. |