Duy trì mức sinh hợp lý, nâng cao chất lượng dân số

Những năm qua, nhờ làm tốt công tác giảm sinh, số con trung bình của mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ liên tục giảm, từ 6,39 con vào năm 1960 xuống còn 2,09 con năm 2006 (dưới mức sinh thay thế - mức sinh lý tưởng là 2,1 con). Tuy nhiên, theo dự báo của LHQ, mức sinh còn nhiều biến động, có thể gây ra những bất lợi đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.

Sinh viên Trường đại học Nguyễn Tất Thành tham gia Hội thảo sức khỏe sinh sản. Ảnh: THANH THẢO
Sinh viên Trường đại học Nguyễn Tất Thành tham gia Hội thảo sức khỏe sinh sản. Ảnh: THANH THẢO

Mức sinh quá cao hay quá thấp đều bất lợi

Xét trên bức tranh toàn cảnh, trong những năm qua, tổng tỷ suất sinh của nước ta liên tục giảm từ 6,39 con (năm 1960) xuống còn 2,09 con năm 2006 (mức sinh thay thế lý tưởng là 2,1 con). Liên tục từ đó đến nay, tỷ suất sinh luôn ở dưới mức sinh thay thế. Chỉ tính riêng trong 20 năm qua, theo các nhà khoa học, nước ta đã tránh sinh được 18 triệu trường hợp. Ðiều đó có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội khi nâng cao được mức thu nhập bình quân đầu người, nâng cao các chỉ số sức khỏe, chất lượng cuộc sống của người dân.

Nước ta đang trong thời kỳ cơ cấu dân số "vàng" với hơn 62 triệu người trong độ tuổi lao động (chiếm 69% tổng dân số) và bắt đầu bước vào thời kỳ "già hoá dân số" với số người từ 60 tuổi trở lên chiếm 10,5% dân số. Theo báo cáo của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS - KHHGÐ): mặc dù tốc độ gia tăng dân số đã được kiểm soát, nhưng LHQ dự báo mức sinh của nước ta vẫn biến động khó lường, có thể tạo ra những điều kiện thuận lợi nhưng cũng có thể gây ra những bất lợi đối với sự phát triển của đất nước. Nếu để mức sinh tăng trở lại và tổng tỷ suất sinh có thể lên tới 2,3 -2,5 con/phụ nữ, thì đến năm 2050 quy mô dân số nước ta sẽ đạt cực đại ở mức quá cao khoảng từ 130 đến 140 triệu người, khoảng 400 người/km2. Ðiều này sẽ gây áp lực lớn đối với các lĩnh vực y tế, giáo dục, lao động, việc làm... rất bất lợi đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và cơ cấu nhân khẩu học của đất nước trong tương lai. Nếu để mức sinh giảm xuống thấp và tổng tỷ suất sinh chỉ khoảng 1,35 con/phụ nữ (vào khoảng từ năm 2020 đến 2050), quy mô dân số nước ta sẽ đạt cực đại vào khoảng từ 95 đến 100 triệu người. Ðiều này sẽ dẫn đến dân số suy giảm, thiếu nguồn lao động, giai đoạn cơ cấu dân số "vàng" ngắn lại và già hóa dân số diễn ra nhanh. Nếu duy trì mức sinh ở mức thấp hợp lý với tổng tỷ suất sinh khoảng từ 1,9 đến 2,0 con/phụ nữ thì đến năm 2050, quy mô dân số nước ta sẽ ổn định ở mức từ 115 đến 120 triệu người. Ðiều này sẽ phát huy được các lợi thế của dân số, đó là quy mô dân số sẽ ổn định ở mức thấp hơn, cơ cấu tuổi của dân số sẽ cân bằng hơn, giảm dần được sự chênh lệch bất lợi về mức sinh giữa các địa phương, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội đất nước trong cả hiện tại và tương lai.

Ổn định mức sinh hợp lý giữa các vùng miền

Mặc dù hiện nay, dân số nước ta đã đạt tiêu chí về mức sinh thay thế, nhưng xét trên bình diện chung cả nước thì vẫn có sự khác biệt giữa các vùng miền. Công tác DS - KHHGÐ vẫn đang đứng trước những khó khăn, thách thức: Quy mô dân số tiếp tục tăng, mức sinh còn nhiều biến động khó lường; giữa các vùng miền có sự khác biệt lớn về mức sinh; đặc biệt một số tỉnh vẫn chưa đạt tiêu chí về mức sinh thay thế. Theo thống kê vùng Ðông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long có mức sinh thấp hơn nhiều so với mức sinh thay thế (1,5 - 1,6 con), một số tỉnh, thành phố cũng đang trong tình trạng mức sinh thấp như TP Hồ Chí Minh, Ðồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu... Nếu Ðông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với mức sinh thấp (thậm chí rất thấp) thì ở những tỉnh miền núi phía bắc, miền trung và Tây Nguyên, tỷ suất sinh còn rất cao và đang phải "oằn mình" kiên trì giảm sinh. Tỷ suất sinh thô cả nước hiện nay từ 16 đến 17 phần nghìn, nhưng tỷ suất này ở các tỉnh lên đến gần 30 phần nghìn. Nhiều tỉnh như: Hà Giang, Lai Châu, Hà Tĩnh, Ðác Lắc có tổng tỷ suất sinh ở mức trên dưới ba con. Thậm chí có những nơi, đặc biệt là tại các vùng đồng bào dân tộc ít người, có tình trạng sinh từ 6 đến 7 con.

Theo ông Nguyễn Văn Tân, Phó Tổng cục trưởng DS-KHHGÐ, để khắc phục tình trạng nói trên, Bộ Y tế đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp, chính sách để duy trì mức sinh thấp hợp lý nhằm bảo đảm cho sự phát triển nhanh và bền vững kinh tế - xã hội. Theo đó, có ba phương án được đề xuất. Phương án 1 - mức sinh cao: để cho tốc độ tăng dân số cao, không điều chỉnh thì Việt Nam sẽ đạt dân số cực đại vào năm 2060 với quy mô dân số khoảng 120 triệu người. Phương án 2 - mức sinh thấp: dân số Việt Nam sẽ đạt 100 triệu vào năm 2040. Phương án 3 - mức sinh thấp hợp lý: Việt Nam sẽ đạt quy mô dân số cực đại vào năm 2050 với khoảng 110 triệu dân. Nếu chỉ nhìn vào quy mô thì nên chọn mức sinh thấp vì như vậy quy mô dân số ít nhất, sớm đạt cực đại nhất. Tuy nhiên, trong tương lai, cơ cấu dân số sẽ không hợp lý, tình trạng tháp dân số có hình tam giác lộn ngược.

Có thể thấy, ngành y tế đã nhìn ra những "lực cản" và đưa ra được những chính sách DS - KHHGÐ cơ bản nhằm thực hiện mục tiêu duy trì mức sinh thấp hợp lý trong thời gian tới. Tuy nhiên, để những chính sách này đi vào thực tế và đạt được hiệu quả như mong đợi thì e rằng còn rất nhiều chông gai. Thực tế, muốn giảm mức sinh từ trên 3 con/phụ nữ, thậm chí từ 6 đến 7 con/phụ nữ xuống 1,9 con/phụ nữ ở địa phương có mức sinh cao vốn đã là công việc không đơn giản, thì việc nâng mức sinh thấp lên mức hợp lý lại là vấn đề còn khó khăn hơn gấp bội. Vì vậy, giải pháp trước mắt là cần tập trung vào các nhóm giải pháp như: tuyên truyền, giáo dục để người dân chấp nhận quy mô gia đình hai con; cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người dân về sử dụng phương tiện tránh thai. Ðặc biệt, tùy vào tình hình thực tế mà mỗi tỉnh/thành phố sẽ đưa ra các giải pháp DS - KHHGÐ linh hoạt: các tỉnh có mức sinh cao cần tiếp tục giảm mức sinh để sớm đạt mức sinh thay thế; các tỉnh có mức sinh thấp cần khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ hai con.

Có thể bạn quan tâm