Dưới tán rừng U Minh Hạ

Những tháng trời sa mưa, rừng U Minh Hạ khoác lên mình mầu xanh ngắt trải dài tăm tắp. Dưới tán rừng rậm rạp ấy, dòng nước phèn đỏ quạch lững lờ chảy qua các tuyến kênh xẻ dọc, ngang. Nước ngập những trảng cỏ, len lỏi qua từng gốc tràm già. Đó cũng là lúc những thợ rừng xứ Cà Mau vào mùa cắm câu, đặt trúm bắt lươn.

Rau muống đồng tự nhiên dưới kênh rạch trong rừng được nhóm thợ rừng thu hoạch trên đường về để phục vụ bữa ăn. (Ảnh: HỮU TÙNG)
Rau muống đồng tự nhiên dưới kênh rạch trong rừng được nhóm thợ rừng thu hoạch trên đường về để phục vụ bữa ăn. (Ảnh: HỮU TÙNG)

Giữa muôn vàn cách đánh bắt sản vật đồng quê, cái ống trúm lươn của lưu dân thời mở đất vẫn được xem là sáng tạo, gói trọn sự tinh tế trong cách ứng xử khéo léo với thiên nhiên. Chẳng thế mà dân gian xưa nể trọng thợ bắt lươn, trong các nghề săn bắt chỉ xếp sau thầy bắt rắn.

Bí quyết của nghề thợ rừng

Trở lại miệt rừng xã Khánh Lâm (Cà Mau) lần này, chúng tôi theo nhóm thợ rừng Bùi Út Bảy đi đặt trúm bắt lươn. Trời chiều buông nắng nhẹ. Trên các dòng kênh sâu trong rừng, chiếc vỏ lãi của Út Bảy rẽ sóng luồn lách vô rừng. Tiếng chân vịt của máy đuôi tôm xè xè phá tan không gian yên tĩnh.

Nhóm thợ rừng lặng lẽ vạch cỏ, rẽ luồng, tỉ mẩn chọn từng góc êm thích hợp nhất để gài trúm. Ống trúm khi xưa làm bằng tre gai già, đốt dài, vỏ mỏng, được đục thông mắt tỉ mỉ và chừa lại mắt chót cùng.

Làm ống tre khá vất vả, phải ngâm nước mặn rồi phơi khô để không bị mối mọt. Ngày nay, tre già hiếm gặp, lại muốn gọn nhẹ nên thợ rừng thay bằng ống nhựa PVC.

Theo lý giải của thợ rừng Trịnh Trọng Tín, ống nhựa vừa nhẹ, dễ mang vác với số lượng lớn, lại xài bền qua nhiều mùa mưa. Nhưng dù có thay chất liệu gì thì phần “hồn” của cái ống trúm vẫn nằm ở cái hom làm bằng nan trúc chẻ mỏng vút nhẵn bóng.

Cái hom gài sao cho lươn trườn vào ăn mồi thì dễ, nhưng không thể nào quay đầu bò ra. Muốn vậy, nan trúc làm hom phải chọn tre trúc già, chẻ mỏng, chuốt thật mượt tay để lươn trườn qua mượt mà và không bị xước da”.

Qua nhiều năm mưu sinh, dân xứ rừng như Út Bảy thuộc nằm lòng câu nói truyền tai nhau đầy chiêm nghiệm của người xưa: “Cá chết vì lưới, lươn chết vì mồi”.

Mồi truyền thống thường là ốc bươu vàng, cua đồng, cá lóc nhỏ hay nhái băm nhuyễn. Tất cả đem trộn với xác dừa khô chiên lên thơm phức.

Thợ rừng như Út Bảy còn có bí quyết sáng tạo riêng theo cách: băm thêm vài cọng rau mùi như ngò om, ngò gai, rồi trộn chút dầu cá, mùi thơm của mồi sẽ theo dòng nước chảy lan xa trong lòng kênh, kích thích khứu giác nhạy bén của loài lươn.

Đặc biệt, nhóm của Út Bảy còn cho thêm chút tỏi ớt làm mồi có vị cay nhẹ. “Lươn chui vô ăn trúng vị cay cứ chép miệng lia lịa tạo ra âm thanh “dùng dúng” dồn dập dưới nước, khiến những con lươn gần đó tưởng đâu đồng loại gọi nhau đến, cứ thế mà rủ nhau chui vô tiếp”, thợ rừng Huỳnh Minh Trí tiếp lời.

Thời điểm thích hợp nhất để đặt trúm bắt lươn của các nhóm thợ rừng từ tháng 6 đến tháng 12 Âm lịch hằng năm, thời gian mùa mưa dầm dai dẳng ở miền tây. Nguồn nước trời tự nhiên này giúp thảm thực vật dưới chân rừng phát triển dày đặc.

Đây cũng là điều kiện lý tưởng để lươn đồng tìm về các con kênh có cỏ lác, bèo cám trong rừng để trú ẩn và tìm thức ăn.

Nâng cao ý thức giữ rừng

Theo chân cha, ông đi rừng từ tấm bé nên đến nay, thợ rừng Trịnh Trọng Tín (ngụ xã Khánh Lâm) đã có hơn 15 năm trong nghề, dù tuổi mới ngoài 25. Đến giờ, Tín hiểu từng hơi thở của rừng, thuộc lòng từng con rạch, dòng kênh.

Tín bộc bạch, chỉ cần nhìn màu sắc mặt nước, nghe hướng gió thổi là biết lươn đang tụ ở đâu. Người thợ rừng trẻ tiết lộ: “Những mé kênh nước sâu có cỏ lác tàn mục, lá chuyển mầu vàng úa là nơi cá nhỏ tụ về ăn bã cỏ, lươn to chắc chắn sẽ mò tới săn cá. Khi trời chuyển mưa lớn, lươn có tập tính vượt lên chỗ cạn tìm mồi nên thợ rừng dời trúm lên vùng nước nông hơn sẽ có nhiều lươn”.

Với nhóm thợ rừng Út Bảy, kỹ thuật gài trúm đòi hỏi sự khéo léo và tỉ mỉ. Miệng trúm luôn phải ở hướng xuôi chiều gió để hương mồi tỏa rộng theo dòng chảy. Muốn bắt được “lươn cụ, lươn khủng”, miệng trúm phải gài sâu dưới mặt bùn.

Tuy nhiên, phần đuôi trúm buộc phải nhô lên khỏi mặt nước chừng nửa gang tay. Làm như vậy để ống trúm luôn có khoảng không không khí, lươn chui vào không bị ngộp thở mà chết trước khi người thợ đến dỡ.

Mỗi thao tác gài trúm đều nhẹ nhàng, cẩn trọng để không làm động vùng nước chung quanh.

Ở khu vực rừng sản xuất của xã Khánh Lâm, nhóm của Út Bảy, Tín và Trí nhận thuê hơn 300ha đất để khai thác các sản vật tự nhiên dưới tán rừng tràm. Họ chia rừng thành từng khu rộng khoảng 50ha để khai thác xoay vòng.

“Cách làm này giúp môi trường có thời gian phục hồi, vừa lúc lươn, cá kịp sinh sôi nảy nở cho lứa sau”, thợ rừng Minh Trí tâm sự.

Sống dựa vào rừng nên nhóm của Trí ai cũng nâng niu, có ý thức giữ rừng, lươn, cá hay rắn bắt được còn nhỏ đều được anh em nhẹ tay thả lại môi trường tự nhiên để gây đàn cho mùa sau.

Và tuyệt đối không xâm phạm các loài động vật hoang dã thuộc danh mục cấm. Sáng sớm hôm sau, khi sương mờ còn giăng trên lá tràm, nhóm của Út Bảy lại chạy vỏ lãi vô rừng, đi dỡ trúm.

Tiếng dốc ống trúm nghe “bộp bộp” vang lên giữa tĩnh lặng rừng xanh, khoảng 50 ống trúm của nhóm Út Bảy thu về hơn 10kg lươn rừng béo vàng, thu về hơn 2 triệu đồng.

Ở miệt sông nước Cà Mau, lươn rừng loại lớn thuộc hàng hiếm, luôn giữ giá ổn định ở mức hơn 200.000 đồng/kg.

Trên đường trở về, nhóm thợ rừng hái vội mớ rau muống đồng dưới kênh, bẻ vài chùm trái giác (loại quả rừng có vị chua như quả me, khế, sấu…).

Chỉ đơn giản vậy thôi nhưng nhóm của Út Bảy đã có mâm cơm ấm cúng với đĩa lươn xào sả ớt và nồi canh chua trái giác nấu rau muống rừng đậm vị. Tiếng cười nói rôm rả hòa cùng chén rượu sâm đất đưa hơi làm tan biến bao mệt nhọc sau ngày dài lội rừng.

Nghề đặt trúm của nhóm thợ rừng đi qua biết bao mùa mưa nắng, không chỉ mang lại nguồn thu nhập trang trải cuộc sống gia đình dưới tán rừng tràm, mà ở đó còn đúc kết nét văn hóa ẩm thực dân dã, đặc thù của vùng đất phương Nam.

Có thể bạn quan tâm