Đưa nghệ thuật vào công trình: Nghĩa vụ mới cần được “định lượng”

Đưa nghệ thuật vào công trình: Nghĩa vụ mới cần được “định lượng”

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, lần đầu tiên đặt ra nghĩa vụ đối với chủ đầu tư 7 loại công trình, từ chung cư, trường học, khách sạn đến công viên, nhà ga phải tổ chức hoạt động phát triển công nghiệp văn hóa gắn với công trình.

Đây là một chủ trương đúng, thể hiện tinh thần đưa văn hóa thấm sâu vào đời sống của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, khi định mức kinh phí, ngưỡng áp dụng và cơ chế lựa chọn, quản lý tác phẩm vẫn còn chờ văn bản quy định chi tiết, nghĩa vụ đó rất dễ mang tính hình thức nếu các văn bản này không đủ cụ thể.

Đô thị hiện đại nhưng thiếu dấu ấn văn hóa

Không khó để bắt gặp ở các đô thị nước ta những khu chung cư cao tầng, trung tâm thương mại, nhà ga, trường học khang trang, hiện đại nhưng gần như giống hệt nhau và thiếu dấu ấn văn hóa. Sảnh chung cư thường chỉ có quầy lễ tân và vài chậu cây, không gian công cộng trong nhiều khu đô thị mới chủ yếu là bãi đỗ xe và lối đi. Trong khi đó, đội ngũ họa sĩ, nhà điêu khắc, nhà thiết kế, nghệ nhân lại thiếu những “đơn đặt hàng” ổn định để sáng tác và sống được bằng nghề.

Nhận diện thực trạng này, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI (tháng 4/2026), khi thảo luận về dự thảo Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam, đã có ý kiến đại biểu Quốc hội cho rằng nhiều công trình lớn, hiện đại, tốn kém nhưng chưa tạo được dấu ấn thẩm mỹ, và đề xuất dành một tỷ lệ nhất định trong tổng mức đầu tư, có thể là 1%, cho các hạng mục văn hóa, nghệ thuật gắn với công trình công sử dụng vốn nhà nước, dự án nhà ở xã hội và khu tái định cư lớn, đồng thời đề nghị giao Chính phủ quy định chi tiết tiêu chí áp dụng, tỷ lệ cụ thể, cách lựa chọn tác phẩm và cơ chế bảo dưỡng lâu dài.

quochoi-4395.jpg
Dự thảo Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam đã được thảo luận tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI (tháng 4/2026). Trong ảnh: Quang cảnh bế mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI. (Ảnh: DUY LINH)

Đề xuất này phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/TW. Nghị quyết khẳng định các giá trị văn hóa phải “được gắn kết chặt chẽ, hài hòa, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội” và yêu cầu “văn hóa phải thấm sâu vào mọi quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án với tầm nhìn dài hạn và tiêu chuẩn cao”. Một bức phù điêu ở sân trường, một tác phẩm nghệ thuật sắp đặt ở nhà ga, một không gian trưng bày sản phẩm thủ công ở sảnh chung cư chính là cách đưa văn hóa đến với người dân hằng ngày, không cần đến bảo tàng hay nhà hát. Đồng thời, mỗi công trình cũng trở thành một “đơn đặt hàng” cho nghệ sĩ và doanh nghiệp sáng tạo, góp phần hình thành thị trường ổn định cho công nghiệp văn hóa.

Bước tiến của dự thảo

Ý tưởng đó đã được cụ thể hóa trong dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa với những điểm mới đáng ghi nhận.

Thứ nhất, phạm vi áp dụng rộng, không giới hạn ở công trình sử dụng vốn nhà nước. Theo dự thảo, khi đầu tư xây dựng mới hoặc mở rộng 7 loại công trình gồm: nhà chung cư, công trình hỗn hợp có chức năng ở; công trình giáo dục, đào tạo; công trình thương mại, dịch vụ, khách sạn, cơ sở nghỉ dưỡng; trụ sở, văn phòng làm việc; công trình văn hóa, thể thao và phục vụ cộng đồng; công viên; nhà ga và đầu mối giao thông có không gian phục vụ hành khách, chủ đầu tư đều phải tổ chức hoạt động phát triển công nghiệp văn hóa. Như vậy, cả dự án tư nhân cũng thuộc diện áp dụng.

Thứ hai, hình thức thực hiện linh hoạt. Chủ đầu tư có thể chọn một hoặc một số hoạt động: mua sắm sản phẩm công nghiệp văn hóa có bản sắc văn hóa Việt Nam; thiết lập không gian giới thiệu, trưng bày, trình diễn sản phẩm đó; hoặc thiết kế, sáng tạo, lắp đặt tác phẩm mỹ thuật, nghệ thuật, thiết kế sáng tạo gắn với công trình. Cách tiếp cận này mở rộng khái niệm “nghệ thuật trong công trình” sang cả sản phẩm thủ công, thiết kế, không gian trình diễn, phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Thứ ba, ưu tiên rõ ràng cho sản phẩm mang bản sắc Việt Nam. Đây là điểm khác biệt so với nhiều mô hình nước ngoài và gắn chính sách với mục tiêu tạo thị trường cho sản phẩm văn hóa trong nước.

Thứ tư, cơ chế tài chính minh bạch: Kinh phí được tính vào chi phí xây dựng của dự án và xác định trong tổng mức đầu tư được phê duyệt; chủ đầu tư được khuyến khích bố trí kinh phí nhiều hơn. Dự thảo cũng loại trừ những công trình không phù hợp về công năng, an toàn, công trình quốc phòng, an ninh, phòng chống thiên tai, hoặc đã có hạng mục tương tự; đồng thời xác định tác phẩm, tài sản hình thành thuộc sở hữu của chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình, người có trách nhiệm quản lý, bảo quản.

vna-potal-phu-nhan-chu-tich-quoc-hoi-nguyen-thi-thanh-nga-tiep-nhom-phu-nu-cong-dong-asean.jpg
Bà Nguyễn Thị Thanh Nga, Phu nhân Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cùng Nhóm Phụ nữ cộng đồng ASEAN tham quan Khu vực trưng bày khảo cổ dưới tầng hầm Nhà Quốc hội, ngày 17/3/2025. (Ảnh: TTXVN)

Tại Báo cáo thẩm tra số 1218/BC-UBVHXH16 ngày 12/10/2026 về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, Ủy ban Văn hóa và Xã hội cơ bản tán thành quy định này. Tuy nhiên, chính cơ quan thẩm tra cũng nêu nhiều băn khoăn về tính khả thi, cho thấy phần quan trọng nhất của chính sách vẫn còn ở phía trước.

Những khoảng trống cần được lấp đầy

Chưa có định mức cụ thể, nghĩa vụ dễ thành hình thức. Dự thảo quy định nội dung, quy mô và kinh phí của hoạt động văn hóa “được xác định trong dự án đầu tư xây dựng”, bảo đảm phù hợp với công năng, quy mô, kiến trúc và hiệu quả đầu tư của công trình. Dự thảo trình Quốc hội đã bổ sung một khoản giao Chính phủ quy định tiêu chí xác định quy mô tối thiểu của hoạt động này, phù hợp với loại, cấp, quy mô, công năng của công trình, cùng nguyên tắc xác định kinh phí.

Đây là bước tiến quan trọng, nhưng Luật mới dừng ở “tiêu chí” và “nguyên tắc”, chưa có con số. Nếu văn bản hướng dẫn cũng chỉ dừng ở các tiêu chí định tính, chủ đầu tư trên thực tế vẫn tự quyết định chi bao nhiêu. Về lý thuyết, một bức tranh nhỏ treo ở sảnh tòa nhà trị giá hàng nghìn tỷ đồng cũng có thể được coi là đã hoàn thành nghĩa vụ.

Một nghĩa vụ bắt buộc mà không đo đếm được thì khó kiểm tra, khó giám sát và dễ biến thành thủ tục. Cũng có ý kiến cho rằng không nên đặt yêu cầu “tối thiểu” để tránh tăng gánh nặng cho chủ đầu tư. Song nếu bỏ ngưỡng sàn, nghĩa vụ bắt buộc sẽ mất ý nghĩa. Gánh nặng nên được kiểm soát bằng mức trần và ngưỡng áp dụng, chứ không phải bằng cách bỏ mức tối thiểu.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các nước áp dụng chính sách này đều gắn với một con số cụ thể. Tại Pháp, cơ chế “1% nghệ thuật” ra đời từ năm 1951 quy định khoản dành cho tác phẩm nghệ thuật bằng 1% chi phí công trình công, nhưng có mức trần 2 triệu euro. Tại Hàn Quốc, tỷ lệ do nghị định quy định nhưng không quá 1% chi phí xây dựng. Con số có thể khác nhau, nhưng điểm chung là luôn có con số để làm căn cứ. Ireland còn cho thấy một bài học khác khi mức trần 64.000 euro cho mỗi dự án được ấn định từ năm 1997 đã phải đưa ra rà soát vào năm 2017 vì không còn phù hợp với chi phí xây dựng. Định mức không chỉ cần có, mà còn cần được điều chỉnh định kỳ.

Không có ngưỡng quy mô, công trình nhỏ cũng phải thực hiện. Dự thảo áp dụng cho mọi dự án xây dựng mới hoặc mở rộng thuộc 7 loại công trình; quy mô công trình mới chỉ là căn cứ để xác định quy mô hoạt động văn hóa, chưa phải là ngưỡng để xác định công trình nào thuộc diện phải thực hiện. Một trường mầm non vài phòng học, một văn phòng nhỏ cũng thuộc diện phải thực hiện, làm phát sinh chi phí tuân thủ (thuê thiết kế, thẩm định, mua sắm, quản lý) không tương xứng với lợi ích. Một nghĩa vụ áp dụng đồng loạt, không có lộ trình, chưa lường hết tác động đến chi phí đầu tư rất dễ bị xem là gánh nặng hành chính, thậm chí làm giảm sự đồng thuận với một chủ trương đúng. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các nước đều khoanh vùng đối tượng ngay từ đầu. Hàn Quốc - nước áp dụng nghĩa vụ này cho cả công trình tư nhân từ năm 1972 - chỉ yêu cầu với công trình có tổng diện tích sàn từ 10.000m² trở lên.

cau-di-bo.jpg
Cầu dành cho người đi bộ trên phố Trần Nhật Duật (Hà Nội) được trang trí thành không gian nghệ thuật ánh sáng với chủ đề “Nước”, ngày 24/4/2024. (Ảnh: GIANG NAM/BÁO NHÂN DÂN)

Chưa phân biệt công trình sử dụng vốn nhà nước và vốn tư nhân. Ý kiến đề xuất tại nghị trường trước đó hướng vào công trình sử dụng vốn nhà nước, nơi Nhà nước có thể chủ động đi đầu. Dự thảo mở rộng sang cả dự án tư nhân là bước tiến, nhưng lại áp dụng một cơ chế chung cho cả hai. Với vốn nhà nước, cần yêu cầu cao hơn về mức chi và quy trình lựa chọn công khai. Với vốn tư nhân, nghĩa vụ tài chính cần có giới hạn rõ ràng để không làm tăng giá thành, nhất là giá nhà ở. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, khi mở rộng nghĩa vụ sang khu vực tư nhân, các nước thường kèm theo giới hạn và lựa chọn linh hoạt. Hàn Quốc chỉ áp dụng với công trình lớn, tỷ lệ không quá 1% và cho phép nộp quỹ thay thế; trong khi Pháp, Ireland chủ yếu áp dụng nghĩa vụ đối với công trình sử dụng ngân sách.

Thiếu phương án thay thế khi công trình không phù hợp để đặt tác phẩm. Theo dự thảo, những công trình không phù hợp về công năng, kỹ thuật sẽ được miễn nghĩa vụ, nhưng không có cơ chế nào để chuyển phần nguồn lực tương ứng sang phục vụ nghệ thuật ở nơi khác. Như vậy, nguồn lực lẽ ra dành cho nghệ thuật sẽ mất đi.

Trong khi đó, kinh nghiệm của Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) cho thấy lựa chọn nộp quỹ là một “van an toàn” hợp lý. Từ năm 2011, chủ đầu tư ở Hàn Quốc có thể nộp vào Quỹ Phát triển văn hóa nghệ thuật một khoản bằng 70% số tiền lẽ ra phải chi cho tác phẩm. Ở Đài Loan (Trung Quốc), công trình được miễn, giảm nghĩa vụ phải nộp khoản kinh phí tương ứng vào quỹ dành cho văn hóa. Nghĩa vụ không mất đi, chỉ chuyển hình thức. Việc Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội đã cho phép thí điểm Quỹ Văn hóa, nghệ thuật theo mô hình công tư tạo điều kiện để nghiên cứu áp dụng phương án này.

han-quoc.jpg
Tác phẩm điêu khắc hình xoắn ốc tại quảng trường Cheonggye, thủ đô Seoul, Hàn Quốc. (Nguồn: Korean.visitkorea.or.kr)

Chưa có cơ chế lựa chọn tác phẩm và quản lý sau lắp đặt. Theo dự thảo, chủ đầu tư được trực tiếp thực hiện hoặc thuê tổ chức, cá nhân có năng lực thực hiện, nhưng chưa có yêu cầu nào về hội đồng chuyên môn hay lựa chọn công khai. Bài học của Hàn Quốc rất đáng lưu ý bởi sau hơn 50 năm thực hiện, báo chí nước này thường xuyên phản ánh tình trạng cơ hội bị một số nghệ sĩ, doanh nghiệp “độc chiếm”. Các tác phẩm điêu khắc na ná nhau lặp lại ở nhiều tòa nhà, tác phẩm không được bảo dưỡng sau khi lắp đặt. Tháng 7/2026, một dự án sửa đổi toàn diện luật liên quan đã được trình Quốc hội Hàn Quốc, với các hướng như mở rộng thi tuyển công khai, lập danh sách chuyên gia thẩm định cấp quốc gia và tăng cường quản lý sau lắp đặt. Ở Pháp, mọi tác phẩm đều phải qua “hội đồng nghệ thuật” trước khi được lựa chọn. Với Việt Nam, nếu không thiết kế khâu này ngay từ đầu, chính sách tốt có thể tạo ra những tác phẩm kém chất lượng, thậm chí làm xấu thêm không gian đô thị.

Kiến nghị cho văn bản quy định chi tiết

Dự thảo Luật đã xác định khung nghĩa vụ, phần “định lượng” được giao Chính phủ quy định chi tiết. Để chính sách đi vào thực chất, Nghị định hướng dẫn cần làm rõ một số nội dung sau.

Một là, quy định mức chi tối thiểu và mức trần. Mức tối thiểu có thể tính theo tỷ lệ phần trăm chi phí xây dựng, có mức trần tuyệt đối để tránh gánh nặng quá lớn với công trình quy mô lớn, và được phân theo loại, quy mô công trình. Các mức này cần được rà soát định kỳ, chẳng hạn 5 năm một lần, theo biến động chi phí xây dựng.

Hai là, xác định ngưỡng quy mô và lộ trình áp dụng. Nghĩa vụ chỉ nên áp dụng với công trình đạt ngưỡng diện tích sàn hoặc tổng mức đầu tư nhất định. Có thể bắt đầu từ công trình sử dụng vốn nhà nước, sau đó mở rộng sang công trình tư nhân quy mô lớn.

ben-thanh.jpg
Người dân chiêm ngưỡng tác phẩm trong Dự án Trang trí nghệ thuật Ga Metro Bến Thành. (Ảnh: MINH ÂN/BÁO NHÂN DÂN)

Ba là, thành lập hội đồng chuyên môn và thi tuyển công khai. Với công trình sử dụng vốn nhà nước hoặc giá trị hạng mục nghệ thuật vượt một ngưỡng nhất định, việc lựa chọn tác phẩm cần qua hội đồng gồm nghệ sĩ, kiến trúc sư, chuyên gia văn hóa và đại diện cộng đồng, với hình thức thi tuyển công khai. Cần có cơ chế dành cơ hội cho nghệ sĩ trẻ, nghệ sĩ địa phương và các làng nghề.

Bốn là, bổ sung lựa chọn nộp quỹ. Chủ đầu tư công trình không phù hợp để đặt tác phẩm hoặc không muốn trực tiếp thực hiện có thể nộp một tỷ lệ kinh phí tương ứng vào Quỹ Văn hóa, nghệ thuật, để tài trợ nghệ thuật công cộng ở những nơi cần hơn, nhất là vùng khó khăn. Như vậy, nghĩa vụ vẫn được bảo đảm, nguồn lực được phân bổ hợp lý hơn.

Năm là, quy định cụ thể trách nhiệm bảo quản. Cần làm rõ nghĩa vụ duy trì, bảo dưỡng tác phẩm trong suốt vòng đời công trình, kể cả khi công trình chuyển nhượng, thay đổi công năng; xử lý trường hợp tác phẩm bị xuống cấp, di dời hoặc tháo bỏ.

Sáu là, xây dựng cơ sở dữ liệu công khai về các tác phẩm đã lắp đặt, kết nối với Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia. Đây vừa là công cụ để cơ quan quản lý và người dân giám sát, vừa là nguồn số liệu thống kê đóng góp của chính sách cho công nghiệp văn hóa, vừa là “bản đồ nghệ thuật công cộng” phục vụ du lịch, giáo dục.

Một tác phẩm nghệ thuật đặt đúng chỗ có thể làm thay đổi diện mạo một con phố, trở thành ký ức chung của một khu dân cư, thậm chí thành biểu tượng của một thành phố. Nhưng một tác phẩm đặt cho có thì chỉ làm tăng chi phí xây dựng. Sự bắt buộc trong Luật mới chỉ là điểm khởi đầu. Con số rõ ràng, quy trình lựa chọn minh bạch và trách nhiệm chăm sóc lâu dài mới quyết định chính sách có thực chất hay không. Thiết kế tốt những điều đó trong văn bản quy định chi tiết chính là cách để mỗi công trình không chỉ là một khối bê-tông mà trở thành một không gian văn hóa, đúng như yêu cầu đưa văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội mà Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đặt ra.

Có thể bạn quan tâm