Ông Nguyễn Ngọc Hùng, Phó Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam:
Trải qua hơn 3/4 thế kỷ kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 30/1/1950, quan hệ Việt Nam-Liên bang Nga đã được tôi luyện qua những thử thách của lịch sử, vượt qua những biến động của tình hình thế giới và không ngừng được củng cố trên nền tảng của sự tin cậy, chân thành, thủy chung và tương trợ lẫn nhau.
Nhân dân Việt Nam luôn trân trọng, khắc sâu và ghi nhớ sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn, chí nghĩa, chí tình mà nhân dân Liên Xô (trước đây) và nhân dân Liên bang Nga (ngày nay) đã dành cho Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước cũng như trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
Qua nhiều thế hệ, tình cảm ấy được tiếp nối, nuôi dưỡng bởi những mối quan hệ giữa con người với con người, giữa những người thầy và học trò, đồng nghiệp và bạn bè, giữa các nhà khoa học, văn nghệ sĩ, chuyên gia, địa phương và tổ chức xã hội hai nước, tạo nền tảng xã hội sâu rộng và bền chặt cho quan hệ song phương.
Chính vì vậy, tình hữu nghị truyền thống Việt Nam-Liên bang Nga là tài sản quý báu chung của hai đất nước, hai dân tộc, được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp, gìn giữ và trao truyền. Trách nhiệm của thế hệ hôm nay không chỉ là trân trọng, bảo tồn tài sản ấy, mà còn phải làm giàu thêm bằng những giá trị mới, những thành quả hợp tác mới và những mối liên kết mới giữa nhân dân hai nước.
Tinh thần đó phù hợp với định hướng nhất quán của Lãnh đạo cấp cao hai nước, coi việc củng cố và phát triển quan hệ Việt Nam-Liên bang Nga là lựa chọn chiến lược và khách quan đáp ứng lợi ích căn bản, lâu dài của hai quốc gia và nhân dân hai nước.
Là cơ quan đồng khởi xướng và tổ chức Diễn đàn Nhân dân hai nước, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam đánh giá rất cao sự phối hợp chặt chẽ, kiên trì và trách nhiệm của Chính quyền thành phố Saint Petersburg, trực tiếp là Ủy ban Đối ngoại thành phố và các cơ quan hữu quan của thành phố, các tổ chức nhân dân, hội đoàn của Việt Nam và Liên bang Nga như Hội Hữu nghị Việt Nam-Liên bang Nga, Liên hiệp các tổ chức người Việt Nam tại Liên bang Nga, Quỹ thúc đẩy phát triển hợp tác Nga-Việt “Truyền thống và Hữu nghị” để hiện thực hóa sáng kiến Diễn đàn nhân dân Việt-Nga, đưa Diễn đàn trở thành một cơ chế đối thoại nhân dân thường niên, luân phiên tổ chức tại mỗi nước.
Dư địa hợp tác Việt-Nga trên kênh nhân dân còn rất lớn trong các lĩnh vực khoa học-công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế, thương mại, y tế, giáo dục-đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, văn hóa, du lịch. Tiềm năng hợp tác giữa địa phương, doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và giao lưu thế hệ trẻ hai nước rất rộng mở.
Diễn đàn của chúng ta cần trở thành không gian nhằm không chỉ trao đổi về tiềm năng, mà còn nhận diện những đối tác có khả năng cùng hành động, xác định những nội dung có thể triển khai ngay và hình thành những mạng lưới hợp tác có khả năng duy trì lâu dài. Mỗi kỳ Diễn đàn vừa kế thừa những kết quả đã đạt được, vừa tạo thêm những giá trị mới cho quan hệ Việt-Nga.
Mỗi đề xuất có triển vọng cần được gắn với một đối tác và đầu mối thực hiện cụ thể; mỗi thỏa thuận cần có lộ trình, cơ chế phối hợp và mục tiêu rõ ràng; mỗi chương trình hợp tác cần hướng tới những sản phẩm có giá trị đối với người dân, địa phương, doanh nghiệp và sự phát triển của hai nước.
Cùng với việc tiếp tục phát huy những phương thức hợp tác hiệu quả đã có, tôi đề xuất hai bên cần phát triển mạnh mẽ những phương thức hợp tác hiện đại, có giá trị kiến tạo và khả năng lan tỏa; tăng cường kết nối theo mạng lưới giữa các nhà khoa học, chuyên gia, trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và địa phương hai nước; thúc đẩy các mô hình gắn nghiên cứu với đào tạo và ứng dụng thực tiễn; tận dụng hiệu quả các nền tảng số để duy trì kết nối thường xuyên giữa các đối tác; tạo thêm không gian để thanh niên, trí thức trẻ, nhà khoa học trẻ và doanh nhân trẻ hai nước cùng tham gia, cùng sáng tạo và cùng tiếp nối tình hữu nghị Việt-Nga bằng những thành quả của thời đại mới.
Tôi mong rằng, từ Diễn đàn lần thứ hai này, chúng ta sẽ được chứng kiến thêm nhiều dự án chung, nhiều công trình nghiên cứu, nhiều chương trình đào tạo và trao đổi chuyên gia, nhiều kết nối giữa doanh nghiệp và địa phương, đồng thời có thêm nhiều người trẻ Việt Nam và Liên bang Nga hiểu biết về nhau, tin cậy nhau và cùng nhau kiến tạo tương lai.
Ông Đỗ Xuân Hoàng, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức người Việt Nam tại Liên bang Nga:
Quan hệ Việt Nam-Liên bang Nga được xây dựng qua nhiều thế hệ, bằng tình cảm chân thành, sự tin cậy và những trải nghiệm lịch sử sâu sắc. Đối với nhiều người Việt Nam, nước Nga không chỉ là một đối tác quan trọng, mà còn là nơi lưu giữ những ký ức, tình bạn, tri thức và những giá trị đã góp phần hình thành nên cuộc đời của họ.
Quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Liên bang Nga đang mở ra những cơ hội hợp tác trong nhiều lĩnh vực. Tuyên bố chung tháng 9/2026 của lãnh đạo hai nước cũng nhấn mạnh vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực và giao lưu văn hóa. Điều đó đặt ra một nhiệm vụ rõ ràng: làm thế nào để những định hướng lớn của hai quốc gia được chuyển hóa thành những chương trình và kết quả cụ thể trong đời sống kinh tế xã hội.
Theo tôi, có ba nhóm việc cần làm để thực hiện nhiệm vụ này:
Thứ nhất, tiếp tục gìn giữ và phát huy tình hữu nghị truyền thống.
Thứ hai, mở rộng và làm sâu sắc các mạng lưới hợp tác thực chất giữa doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức xã hội và các địa phương của hai nước.
Thứ ba, tạo điều kiện để người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, chủ động tham gia vào quá trình xây dựng quan hệ Việt Nam-Nga bằng tri thức, sáng kiến và những hoạt động mang tính lâu dài.
Qua nhiều thập niên học tập, lao động, kinh doanh và sinh sống tại Nga, cộng đồng người Việt Nam đã hình thành những mạng lưới quan hệ rộng lớn, tích lũy nhiều kinh nghiệm, phát triển các hoạt động kinh tế và đóng góp vào sự giao lưu giữa hai dân tộc. Chúng ta có không ít những doanh nhân, những nhà khoa học, chuyên gia, kỹ sư và bác sĩ; những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục; cùng một thế hệ trẻ có khả năng tiếp cận cả hai nền văn hóa.
Nhiệm vụ của chúng ta là xây dựng cơ chế để các nguồn lực này được kết nối, được sử dụng hiệu quả và tiếp tục phát triển. Cần tiến tới những mô hình hợp tác có tổ chức hơn, trong đó cộng đồng không chỉ giới thiệu đối tác mà còn tham gia xây dựng dự án, chia sẻ kinh nghiệm, tìm kiếm công nghệ và hỗ trợ doanh nghiệp hai nước vượt qua những trở ngại thực tế. Phải tạo được điều kiện để mỗi người có thể tìm thấy một phương thức đóng góp phù hợp với năng lực, kinh nghiệm và nguyện vọng của mình.
Trên tinh thần đó, tôi xin đề xuất một số ý tưởng cụ thể như sau:
Thứ nhất: Xây dựng mạng lưới trí thức Nga-Việt.
Ý tưởng này đã được hiện thực hóa và Mạng lưới đã chính thức ra mắt trong dịp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga tháng 9/2026.
Thứ hai: Hình thành cơ chế kết nối doanh nghiệp và thị trường Việt Nam-Nga.
Để tổ chức các diễn đàn doanh nghiệp chuyên đề, kết nối các hiệp hội ngành hàng, hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm đối tác và trao đổi thông tin thị trường. Giúp họ đánh giá rủi ro và bảo đảm tính minh bạch trong hợp tác kinh doanh.
Bên cạnh thương mại truyền thống, cần quan tâm đến hợp tác chế biến thực phẩm, nông nghiệp, logistics, công nghệ sản xuất, chuyển đổi số và những lĩnh vực phù hợp với nhu cầu cũng như năng lực của hai bên.
Thứ ba: Chương trình kết nối thế hệ trẻ Việt-Nga.
Giao lưu sinh viên, thực tập nghề nghiệp, trao đổi văn hóa, học tiếng Nga, các chương trình nghiên cứu chung cần được xem là những khoản đầu tư dài hạn cho tương lai. Mục tiêu là xây dựng một thế hệ hiểu biết lẫn nhau, có năng lực làm việc trong môi trường quốc tế và có thể trở thành lực lượng tiếp nối quan hệ hữu nghị Việt Nam-Nga.
Thứ tư: Chương trình giao lưu văn hóa.
Chúng ta có thể thúc đẩy các chương trình giao lưu văn hóa, nghệ thuật, giới thiệu văn học và lịch sử, hoạt động dành cho gia đình đa văn hóa và những chương trình để thanh niên hai nước trực tiếp gặp gỡ; quảng bá, khuyến khích nghiên cứu tiếng Nga và tiếng Việt. Mục tiêu không phải chỉ là bảo tồn những giá trị đã có, mà còn làm cho văn hóa trở thành một cầu nối sống động trong xã hội hiện đại.
Thứ năm: Để bảo đảm tính thiết thực, không để những ý tưởng có giá trị chỉ dừng lại ở sự đồng thuận trong hội trường. Cần có cách tiếp cận thực tế hơn nữa - xác định đầu mối điều phối, phân công trách nhiệm, lựa chọn một số nhiệm vụ ưu tiên và đánh giá kết quả bằng các tiêu chí như số chương trình hợp tác được triển khai, số đối tác được kết nối, số dự án nghiên cứu hoặc kinh doanh được hình thành, sự tham gia của thế hệ trẻ và những kết quả cụ thể đối với cộng đồng.
Tôi mong rằng Diễn đàn Nhân dân Việt Nam-Liên bang Nga sẽ là nơi hình thành những sáng kiến mới, những mối quan hệ mới và những chương trình hành động cụ thể.