Trong hơn chín năm thực hiện nhiệm vụ giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, các cơ quan tòa án trong cả nước chỉ thụ lý 151 đơn yêu cầu, trong đó đã ra quyết định tuyên bố phá sản 46 doanh nghiệp. Con số này không phản ánh đúng thực trạng sản xuất, kinh doanh, tình trạng của các doanh nghiệp. Trên thực tế, số doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản lớn hơn nhiều, nhưng không thể tuyên bố phá sản với nhiều lý do khác nhau, trong đó có nhiều quy định của Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 còn bất cập, không phù hợp thực tế. Do vậy, đặt ra yêu cầu phải sửa đổi luật này. Ngày 15-6-2004, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật phá sản. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 15-10-2004 và thay thế Luật phá sản doanh nghiệp ngày 30-12-1993.
Luật phá sản năm 2004 có lời nói đầu, chín chương, 95 điều. So với Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 tăng ba chương, 43 điều. Luật phá sản năm 2004 quy định điều kiện và việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; xác định nghĩa vụ về tài sản và các biện pháp bảo toàn tài sản trong thủ tục phá sản; điều kiện, thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, thủ tục thanh lý tài sản và tuyên bố phá sản; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu tuyên bố phá sản và của người tham gia giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản. Luật này áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật. Tại Ðiều 2, luật giao Chính phủ quy định cụ thể danh mục và việc áp dụng luật này đối với doanh nghiệp đặc biệt trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh; doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và trong các lĩnh vực khác thường xuyên, trực tiếp cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích thiết yếu. Luật phá sản và các quy định khác của pháp luật được áp dụng khi giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác. Trong trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Luật phá sản và quy định của luật khác về cũng một vấn đề thì áp dụng quy định của Luật phá sản.
Về tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, tại Ðiều 3, luật quy định: Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản. Việc xác định sớm tình trạng phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã có ý nghĩa rất quan trọng. Nếu xác định tình trạng này muộn sẽ có rất ít cơ hội thành công, cho dù đó là thủ tục thanh toán hay là thủ tục phục hồi. Thủ tục phá sản bao gồm: nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản; phục hồi hoạt động kinh doanh; thanh lý tài sản, các khoản nợ; tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản.
Cơ quan Nhà nước được luật giao thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản là Tòa án Nhân dân các cấp. Cụ thể là, Tòa án Nhân dân cấp huyện có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với hợp tác xã đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện đó; Tòa án Nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh đó. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án Nhân dân cấp tỉnh lấy lên để tiến hành thủ tục phá sản đối với hợp tác xã thuộc thẩm quyền của Tòa án Nhân dân cấp huyện. Ðối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thì tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đó. Luật phá sản năm 2004 cũng đã quy định rõ nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản. Thẩm phán phải chịu trách nhiệm trước Chánh án và trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
VỀ tổ quản lý, thanh lý tài sản so với Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993, Luật phá sản năm 2004 có những điểm khác như sau: Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 quy định có Tổ quản lý tài sản và Tổ thanh lý tài sản với thành phần mỗi tổ ít nhất là bảy người từ những cơ quan, đơn vị khác nhau. Qua thực tiễn áp dụng cho thấy, hoạt động của hai tổ nói trên ít hiệu quả và chi phí lớn. Vì vậy, Luật phá sản năm 2004 chỉ quy định có một tổ, đó là: Tổ quản lý, thanh lý tài sản với thành phần chỉ có bốn người gồm: một chấp hành viên của cơ quan thi hành án cùng cấp làm tổ trưởng, một cán bộ của tòa án, một đại diện chủ nợ, đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã bị mở thủ tục phá sản. Trong trường hợp cần thiết mới có thêm những người khác tham gia, như: đại diện công đoàn, đại diện người lao động.