Đổi mới nghiên cứu liên ngành trong lĩnh vực khoa học xã hội

Sinh viên Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh thực hành nghiên cứu khoa học.
Sinh viên Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh thực hành nghiên cứu khoa học.

Trong thời đại ngày nay, nhiều vấn đề không chỉ là sự quan tâm của một quốc gia đơn lẻ, mà trở thành vấn đề chung của cả khu vực và thế giới. Theo đó, thúc đẩy nghiên cứu đa ngành là con đường tất yếu để giải quyết các vấn đề thực tiễn một cách toàn diện và hiệu quả. Tuy nhiên, trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, việc triển khai nghiên cứu liên ngành vẫn còn nhiều hạn chế.

Thực trạng và thách thức

Là lĩnh vực đóng vai trò trụ cột trong hoạch định chính sách phát triển đất nước, khoa học xã hội và nhân văn luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị nhấn mạnh chủ trương phát triển khoa học xã hội song song với khoa học công nghệ, tạo nền tảng cho phát triển bền vững đất nước.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Quang Diệu, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, trong bối cảnh chuyển đổi số và cách mạng khoa học công nghệ, khoa học xã hội đang chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình nghiên cứu đơn ngành sang mô hình hợp tác liên ngành với khoa học tự nhiên, đặc biệt là ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI).

Ngày nay, các nhà nghiên cứu xã hội học, sử học hay ngôn ngữ học không chỉ làm việc độc lập mà còn hợp tác với các kỹ sư công nghệ để khai thác dữ liệu, phân tích số liệu, tính toán mô hình sử dụng dữ liệu lớn (big data).

Khoa học tự nhiên cung cấp hạ tầng kỹ thuật, thuật toán và công cụ phân tích định lượng chính xác; còn khoa học xã hội và nhân văn cung cấp tư duy phản biện, bối cảnh văn hóa và đạo đức, giúp “thổi hồn” vào những con số khô khan, tạo ra giải pháp toàn diện cho các vấn đề xã hội phức tạp.

Luật Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 đã nhấn mạnh tầm quan trọng của nghiên cứu liên ngành lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Trong đó, đề ra một số nội dung như yêu cầu về tính liên ngành trong xây dựng chương trình khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; ưu tiên cấp kinh phí ngân sách nhà nước cho nhiệm vụ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo có nội dung liên ngành kết hợp giữa khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật với khoa học xã hội; lựa chọn tổng công trình sư để thực hiện chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có quy mô lớn, có ý nghĩa đặc biệt, có tính liên ngành, quan trọng đối với phát triển kinh tế-xã hội.

Nhận thấy xu hướng tất yếu của nghiên cứu liên ngành trong khoa học xã hội, một số cơ sở giáo dục-đào tạo đã đưa nhiệm vụ này vào chiến lược đào tạo lâu dài của mình như Đại học Ngoại thương, Đại học Phenikaa, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Chiến lược phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội tầm nhìn đến năm 2030 nhấn mạnh: “Khoa học liên ngành tạo ra được các tri thức và luận cứ khoa học có tính dự báo, góp phần giải quyết các vấn đề của thời đại, phục vụ phát triển bền vững đất nước”.

Một sự kiện đáng chú ý, ngày 24/4/2024, Đại học Quốc gia Hà Nội chính thức thành lập Trường Khoa học liên ngành và nghệ thuật (VNU-SIS) xuất phát từ xu thế giáo dục toàn cầu, tiên phong trong đào tạo sáng tạo, nghệ thuật gắn với khoa học liên ngành. Cơ sở này có sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài theo hướng liên ngành, liên lĩnh vực với khẩu hiệu hành động: “Kiến tạo tương lai bằng tri thức liên ngành”.

Sự ra đời của VNU-SIS có ý nghĩa như một sự “kích hoạt mạnh mẽ” hoạt động nghiên cứu liên ngành được triển khai trong các đơn vị giáo dục đại học có đào tạo về khoa học xã hội.

Đổi mới để khai thác tiềm năng

Trên thực tế, nghiên cứu liên ngành trong khoa học xã hội vẫn còn nhiều khó khăn, số lượng nghiên cứu còn rất ít; các tổ chức, đơn vị nghiên cứu, đào tạo khoa học xã hội và nhân văn chưa thật sự đầu tư cho nghiên cứu liên ngành, chủ yếu vẫn thực hiện theo phương pháp đơn ngành. Theo quan sát của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hà, Trường đại học Ngoại thương, danh mục tạp chí được tính điểm trong từng Hội đồng Giáo sư ngành, các tạp chí mang tính đơn ngành, chuyên sâu đang chiếm số lượng lớn và được tính điểm cao.

Thời gian tới, việc ưu tiên chọn và thực hiện các nghiên cứu liên ngành cần được đặc biệt quan tâm nhằm đáp ứng yêu cầu mới của thực tế đời sống khoa học.

Song song với việc gia tăng số lượng nghiên cứu liên ngành là đổi mới hệ thống đánh giá và công nhận. Theo đó, hệ thống này cần được xây dựng theo hướng giảm thiểu rủi ro đối với nhà khoa học. Các công bố nghiên cứu chất lượng trên các tạp chí liên ngành cần được tính điểm cao hơn trong quá trình xem xét của hội đồng giáo sư ngành, liên ngành.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hà khuyến nghị, về mặt thiết chế, cần thành lập các trung tâm, viện nghiên cứu liên ngành khoa học xã hội có vai trò như những tổ chức khoa học chuyên thực hiện nghiên cứu liên ngành, có khả năng tập hợp đội ngũ và phát triển nhân lực.

Nghiên cứu liên ngành đòi hỏi đổi mới cả phương pháp và cơ sở vật chất. Ưu tiên đầu tư vào cơ sở vật chất để có một hạ tầng hiện đại, đồng bộ, một không gian làm việc chung mang tính mở là rất cần thiết. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Quang Diệu nhấn mạnh, thúc đẩy nghiên cứu liên ngành trong khoa học xã hội và nhân văn không chỉ dừng lại ở việc đầu tư máy móc hiện đại, mà đây thật sự là một “cuộc cách mạng về tư duy nghiên cứu”, chuyển dịch từ tư duy mô tả, giải thích sang tư duy dự báo và kiến tạo tương lai.

Có thể bạn quan tâm