1. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra đã được chín tháng, đến nay cả nước đã tích cực triển khai các mục tiêu mà Đại hội đặt ra: Công tác hoàn thiện thể chế được tập trung, Quốc hội đã tổ chức hai kỳ họp ngay sau ngày bầu cử. Nhờ vậy, mặc dù bối cảnh kinh tế quốc tế có nhiều biến động tác động xấu đến nền kinh tế nước ta nhưng sản xuất công nghiệp vẫn tăng cao, tiêu dùng, xuất khẩu, giải ngân vốn đầu tư công và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) duy trì tăng tích cực; thị trường tài chính và tiền tệ ổn định góp phần tăng thu ngân sách và tăng dư địa cho chính sách tài khóa. Tuy nhiên, nhiều khó khăn và thách thức cũng dần hiện ra, trong đó, các động lực tăng trưởng cũ giảm dần ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế nhưng các yếu tố động lực cho tăng trưởng mới hình thành còn chậm và chưa ổn định.
Để khắc phục tình trạng nêu trên, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ Đại hội này là phải đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững và đủ sức ứng phó các biến động của khu vực và thế giới. Vì vậy, cần xác định mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam về kinh tế là một bộ phận của mô hình phát triển để quốc gia trở thành nước công nghiệp phát triển có thu nhập cao (yêu cầu tốc độ tăng trưởng kinh tế phải đạt hai con số trong thời gian 10-15 năm).
Theo nhiều lý thuyết phát triển bền vững, mô hình phát triển quốc gia của các nước đang phát triển và khối Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) dựa trên ba trụ cột chính: Phát triển kinh tế; bảo vệ môi trường; bảo đảm an sinh xã hội. Mỗi một lĩnh vực trong ba lĩnh vực nêu trên đều có sự liên kết chặt chẽ với nhau, tùy thuộc vào thực tế nền kinh tế-xã hội trong từng thời kỳ mà lựa chọn từng mũi đột phá.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ Đại hội này là phải đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững và đủ sức ứng phó các biến động của khu vực và thế giới.
Sang đến những năm đầu của thế kỷ 21, vấn đề bảo vệ môi trường lại được đặt trở thành mũi nhọn với những cam kết đa phương nhưng không có nguồn lực tài chính để thực hiện và không xác định cơ chế đóng góp kinh phí để bảo vệ môi trường toàn cầu. Thực trạng này dẫn đến việc, các quốc gia phát triển cao được hưởng lợi nhiều hơn các quốc gia đang phát triển và chậm phát triển trong quá trình thực hiện chính sách bảo vệ môi trường. Vì vậy, xác định vị thế của Việt Nam trong quá trình phát triển là vấn đề rất quan trọng.
Đối với mô hình đổi mới của Việt Nam từ nay đến năm 2045, nếu coi phát triển kinh tế là đột phá nhằm nâng cao đời sống, an sinh xã hội của Nhân dân và thực hiện cam kết bảo vệ môi trường thì có thể coi phát triển kinh tế với tốc độ tăng GDP hai con số là mũi nhọn đỉnh của tam giác còn hai yếu tố bảo vệ môi trường và bảo đảm an sinh xã hội là hai điểm tạo nên đáy của tam giác phát triển. Trong thời kỳ này, đây là hình tam giác cân với ưu tiên đầu tư mạnh mẽ cho tăng trưởng kinh tế, cải thiện mức thu nhập của người dân và thực hiện từng bước kinh tế xanh trong bảo vệ môi trường. Các vấn đề nguồn nhân lực, hạ tầng số,… là điều kiện, phương tiện để thực hiện hóa mục tiêu đến năm 2045.
2. Về xây dựng mô hình mới, cần xác định đây là mô hình phát triển kinh tế-xã hội chứ không chỉ đơn thuần là mô hình kinh tế nên phải phát triển hài hòa mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất mới. Vì vậy, phải phát triển lực lượng sản xuất để tạo thành động lực và tạo kinh phí cho thực hiện bảo vệ môi trường và an sinh xã hội, phải lấy mục tiêu trong khoảng thời gian 20 năm xây dựng được lực lượng sản xuất nội địa đủ sức cạnh tranh với quốc tế và khu vực, góp phần bảo đảm tự lực, tự cường, bảo đảm tự chủ về kinh tế, tạo điều kiện bảo đảm an ninh đất nước và độc lập đối ngoại.
Theo nhiều lý thuyết phát triển bền vững, mô hình phát triển quốc gia của các nước đang phát triển và khối Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) dựa trên ba trụ cột chính:
- Phát triển kinh tế
- Bảo vệ môi trường
- Bảo đảm an sinh xã hội
Đối với mô hình đổi mới của Việt Nam từ nay đến năm 2045, nếu coi phát triển kinh tế là đột phá nhằm nâng cao đời sống, an sinh xã hội của Nhân dân và thực hiện cam kết bảo vệ môi trường thì có thể coi phát triển kinh tế với tốc độ tăng GDP hai con số là mũi nhọn đỉnh của tam giác còn hai yếu tố bảo vệ môi trường và bảo đảm an sinh xã hội là hai điểm tạo nên đáy của tam giác phát triển.
Việc phát triển lực lượng sản xuất cụ thể hóa là phát triển hệ thống doanh nghiệp Việt Nam không phân biệt chủ sở hữu là Nhà nước hay tư nhân. Ưu đãi cho quá trình này phải được thực hiện nhất quán trong suốt 20 năm, vì vậy hoàn thiện thể chế thực chất là hoàn thiện về quan hệ sản xuất mới định hướng cho lực lượng sản xuất phát triển theo hướng hoàn thiện nền kinh tế thị trường hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước ở đây được hiểu là cả Quốc hội, Chính phủ và chính quyền địa phương phải tạo điều kiện cao nhất cho lực lượng sản xuất phát triển nhưng bảo đảm hài hòa lợi ích của doanh nghiệp, doanh nhân, lợi ích của xã hội và cuối cùng là lợi ích của Nhà nước.
Cần phải hiểu rõ chủ thể tham gia đổi mới mô hình tăng trưởng chủ đạo là doanh nghiệp, Nhà nước chỉ xây dựng thể chế để thu hút mọi thành phần, nguồn lực giúp doanh nghiệp có thể làm chủ một số công nghệ chiến lược. Nhiệm vụ của Nhà nước là phải chọn được những ngành công nghiệp mũi nhọn có khả năng đa dạng hóa thị trường để các doanh nghiệp có một thị trường đủ lớn, hỗ trợ cho việc phát triển doanh nghiệp ở vòng hai.
3. Do mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam đặt phát triển kinh tế là mục tiêu trung tâm nên cần làm rõ cơ sở khoa học-công nghệ của nền kinh tế nói chung và chuyển đổi số nói riêng. Chuyển đổi số bao gồm xử lý dữ liệu lớn và internet vạn vật, bên cạnh nâng cao năng lực quản lý nhà nước còn là nền tảng giúp khoa học-công nghệ được triển khai nhanh hơn với chi phí hợp lý hơn.
Một vấn đề quan trọng nữa, công tác huy động nguồn lực tài chính nhà nước và PPP phải là động lực quan trọng trong mô hình tăng trưởng.
Theo Tổng điều tra kinh tế 2026, toàn bộ nền kinh tế có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó doanh nghiệp tư nhân chiếm 96,6% và doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm gần 95% tổng số doanh nghiệp. Bên cạnh doanh nghiệp chính thức, cả nước có 6,1 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, tạo sinh kế cho hơn 10 triệu lao động.
Cần phải hiểu rõ chủ thể tham gia đổi mới mô hình tăng trưởng chủ đạo là doanh nghiệp, Nhà nước chỉ xây dựng thể chế để thu hút mọi thành phần, nguồn lực giúp doanh nghiệp có thể làm chủ một số công nghệ chiến lược.
Trong số đó, có 3,6 triệu hộ kinh doanh đang được quản lý thuế, tính hết năm tài khóa 2024 đã đóng góp gần 26.000 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước. Nhìn về tổng thể, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh cá thể là lực lượng đông đảo nhất quyết định bộ mặt kinh tế cơ sở và sinh kế của hàng chục triệu lao động.
Vì vậy, đổi mới mô hình tạo động lực tăng trưởng sẽ phải gồm hai nhóm đối tượng: Một là các doanh nghiệp và tập đoàn kinh tế không phân biệt sở hữu là đơn vị tiên phong trong lĩnh vực ứng dụng khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo tham gia ngày càng sâu rộng vào chuỗi khu vực và toàn cầu; hai là nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh bên cạnh vai trò quan trọng về kinh tế, lao động còn có chức năng giảm sốc xã hội khi có các đột biến xảy ra.
Vì vậy, cần phải phân ra hai nhóm chính sách: Đối với các doanh nghiệp lớn, Nhà nước tạo cơ chế, định hướng đầu tư và hỗ trợ phát triển quan hệ quốc tế trên cơ sở các hiệp định đa phương và song phương mà Việt Nam đã ký với các nước. Đối với nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh cá thể, Nhà nước hỗ trợ ứng dụng công nghệ vào trong quản trị doanh nghiệp và hộ kinh doanh đồng bộ với hệ thống quản lý thuế nhà nước, bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm… Nhà nước phải đầu tư công nghệ và chi phí vận hành để các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh là đối tượng thụ hưởng tạo động lực cho các đơn vị này có khả năng tài chính, tiếp cận tài chính cho vòng đầu tư tiếp theo, bảo đảm phát triển bền vững. Nhà nước không phải gánh chi phí vận hành lâu dài của hệ thống công nghệ trong khi các đối tượng này có động lực thương mại để tiếp tục đầu tư, cải tiến sau khi giai đoạn hỗ trợ ban đầu của Nhà nước kết thúc.
Chỉ có như vậy, chúng ta mới tách bạch được nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước và vai trò của doanh nghiệp, doanh nhân trong quá trình hiện thực hóa mô hình tăng trưởng tạo động lực mới góp phần thực hiện thắng lợi hai mục tiêu mà Đại hội XIV của Đảng đã đề ra: Đến năm 2030, trở thành nước công nghiệp có thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành một nước phát triển có thu nhập cao để Việt Nam có thể sánh vai với các quốc gia trên thế giới như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Doanh nghiệp Việt Nam được phát triển theo định hướng nâng cao khả năng hấp thụ công nghệ hiện đại, từ đó tận dụng khả năng về công nghệ, thị trường, xây dựng những doanh nghiệp công nghệ của Việt Nam có khả năng hội nhập cao với kinh tế quốc tế. Mục tiêu này phải xuyên suốt trong 20 năm tới.