Ngành cơ khí từ gia công đến làm chủ công nghệ

Muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, ngành cơ khí Việt Nam cần chuyển từ gia công sang chủ công nghệ, phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao, xây dựng năng lực sản xuất số và đáp ứng các tiêu chuẩn xanh đang trở thành những yêu cầu cấp thiết.

Muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, ngành cơ khí Việt Nam cần chuyển từ gia công sang chủ công nghệ. (Ảnh: KIM DUNG)
Muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, ngành cơ khí Việt Nam cần chuyển từ gia công sang chủ công nghệ. (Ảnh: KIM DUNG)

Ngành cơ khí Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển, từ gia công đơn thuần sang làm chủ thiết kế, công nghệ và tích hợp hệ thống. Đây là bài toán nâng cao năng lực sản xuất của từng doanh nghiệp, nó liên quan khả năng hình thành chuỗi cung ứng trong nước, tận dụng các dự án công nghiệp quy mô lớn và đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế.

Cần thị trường dẫn dắt và hệ sinh thái liên kết

Tại hội thảo Nâng cao năng lực ngành cơ khí Việt Nam: Từ phát triển bền vững đến chinh phục chuỗi cung ứng toàn cầu vừa diễn ra tại Hà Nội, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Kỳ Nam, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI) cho rằng ngành cơ khí đang đứng trước bước ngoặt quan trọng. Nếu trước đây, nhiều doanh nghiệp chủ yếu tập trung gia công theo bản vẽ của đối tác, dựa vào lợi thế nhân công, thì giai đoạn phát triển mới đòi hỏi phải chuyển sang nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ.

Theo ông, định hướng này phù hợp với yêu cầu thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó doanh nghiệp cần tiến tới sản xuất những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, xây dựng năng lực thiết kế gốc và tăng tỷ lệ giá trị tạo ra trong nước.

ndo_br_2aobor67z2mxq6gx1cxj3rilijzkxxwqgutkjnsy.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Kỳ Nam, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI). (Ảnh: KIM DUNG)

Thực tế cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam đã có những bước tiến đáng chú ý. Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Hàng không (AESC), từ nhóm ban đầu chỉ có 9-10 kỹ sư, đã phát triển thành doanh nghiệp với khoảng 200 nhân sự, phục vụ hơn 400 khách hàng tại 40 quốc gia. Từ nghiên cứu nội địa hóa các chi tiết nhỏ trong ngành hàng không, doanh nghiệp từng bước mở rộng hoạt động sang các sản phẩm và thiết bị có yêu cầu kỹ thuật cao.

Ông Trần Hải Đăng, Tổng Giám đốc AESC, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Fly Legion, cho biết doanh nghiệp đã chế tạo dòng máy bay huấn luyện 2 chỗ ngồi TP150. Tuy nhiên, theo chia sẻ của ông, sản phẩm đã trải qua 3 năm nhưng vẫn chưa thể bay thử nghiệm tại Việt Nam do vướng mắc về năng lực phê chuẩn, cấp phép của cơ quan quản lý trong nước.

Câu chuyện này cho thấy, bên cạnh năng lực nghiên cứu và chế tạo của doanh nghiệp, cơ chế thử nghiệm, đánh giá và cấp phép đối với sản phẩm công nghệ mới cũng là vấn đề cần được quan tâm. Ông Trần Hải Đăng kiến nghị cần có đầu mối nhà nước chuyên trách xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp hàng không, vũ trụ; đồng thời kết hợp hiệu quả năng lực công nghiệp quốc phòng và dân sự.

Theo ông, doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng có thể tham gia hệ sinh thái công nghiệp hàng không từ những linh kiện đơn giản, nếu kiên trì đầu tư và xây dựng năng lực trong lộ trình 5-10 năm. Điều quan trọng là không chỉ nhìn vào thị trường trong nước, mà phải hướng tới các chuỗi cung ứng quốc tế.

ndo_br_2aobor67bf7aaanebgd1stenoh7fj8j66htxsowe.jpg
Ông Trần Hải Đăng, Tổng Giám đốc AESC, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Fly Legion. (Ảnh: KIM DUNG)

Ở lĩnh vực cơ khí tích hợp công nghệ cao, Thượng tá Phạm Đồng Khởi, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Sản xuất Thiết bị Viettel (Viettel VMC) cho biết, đơn vị đã làm chủ công nghệ sản xuất các thiết bị phục vụ cả lĩnh vực quân sự và dân sự, từ radar, tên lửa đến trạm phát sóng 5G. Theo phân tích của ông, thị trường thế giới còn nhiều dư địa cho sản phẩm cơ khí Việt Nam. Tuy nhiên, để trở thành nhà cung cấp cho các tập đoàn quốc tế, doanh nghiệp phải vượt qua những yêu cầu khắt khe về nguyên vật liệu, công nghệ gia công và chứng nhận chất lượng. Đây là quá trình đòi hỏi đầu tư dài hạn, không thể chỉ dựa vào năng lực gia công sẵn có.

Một trong những vấn đề đặt ra là làm thế nào tạo đủ động lực để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư nghiên cứu, phát triển công nghệ và mở rộng năng lực sản xuất. Tiến sĩ Ngô Trọng Bính, Phó Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ hàn và Xử lý bề mặt, Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME) nhận định, giai đoạn 2026-2035 đặt ra yêu cầu cao hơn đối với năng lực nội sinh của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh sẽ không chỉ nằm ở việc gia công từng chi tiết, mà còn ở khả năng tự động hóa, tích hợp hệ thống, cung cấp cụm thiết bị hoàn chỉnh và kiểm soát các tiêu chuẩn môi trường.

Theo ông, các dự án đầu tư công quy mô lớn, nhất là đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị và năng lượng tái tạo, có thể tạo thị trường dẫn dắt cho ngành cơ khí. Để tận dụng cơ hội, Nhà nước cần có chính sách đặt hàng dài hạn, gắn các dự án với yêu cầu nội địa hóa phù hợp và thúc đẩy chuyển giao công nghệ, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào quá trình cung ứng.

Đây cũng là hướng tiếp cận được đặt ra từ yêu cầu phát triển công nghiệp đường sắt. Bà Phạm Vân Anh, Giám đốc Quốc gia Epicor Software Việt Nam, cho rằng doanh nghiệp muốn tham gia chuỗi cung ứng ngành này cần chuyển từ tư duy “sản xuất được” sang “chứng minh được bằng dữ liệu”. Theo đó, năng lực máy móc thôi chưa đủ. Doanh nghiệp phải chứng minh được tính ổn định của chất lượng sản phẩm, kiểm soát sai số, truy xuất nguồn gốc và quản lý xuyên suốt quy trình sản xuất. Việc số hóa quản trị, kết nối dữ liệu thiết kế, nguyên vật liệu, sản xuất và kiểm định sẽ tạo nền tảng để đáp ứng các yêu cầu đó.

Bên cạnh đầu tư công nghệ tại từng doanh nghiệp, liên kết giữa các doanh nghiệp cơ khí cũng cần được tăng cường. Thượng tá Phạm Đồng Khởi đề xuất VAMI xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung về máy móc, công nghệ và chứng chỉ chất lượng của các hội viên. Qua đó, doanh nghiệp có thể tìm kiếm đối tác phù hợp, phân chia công đoạn và phối hợp đáp ứng những đơn hàng lớn, thay vì đầu tư trùng lặp, phân tán nguồn lực. Một hệ sinh thái có khả năng kết nối năng lực sản xuất, chia sẻ thông tin và phối hợp thực hiện đơn hàng sẽ giúp doanh nghiệp trong nước nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu của các chuỗi cung ứng quốc tế.

Chuyển đổi xanh trở thành yêu cầu cạnh tranh

ndo_br_2aobor67z8yqu3ao2upp4qz5qof2gfieuckidrj6.jpg
Bà Nguyễn Thị Giang, chuyên gia GSG/ESG của Công ty Cổ phần Giải pháp Khí nhà kính Leon GSG. (Ảnh: KIM DUNG)

Cùng với công nghệ và năng lực quản trị, chuyển đổi xanh đang trở thành điều kiện quan trọng đối với doanh nghiệp cơ khí muốn duy trì thị trường xuất khẩu. Bà Nguyễn Thị Giang, chuyên gia GSG/ESG của Công ty Cổ phần Giải pháp Khí nhà kính Leon GSG lưu ý, doanh nghiệp cần phân biệt giữa kiểm kê khí nhà kính cấp cơ sở, tính dấu chân carbon của sản phẩm và truy vết carbon theo từng lô hàng xuất khẩu. Đây là những yêu cầu khác nhau, đòi hỏi phương pháp thu thập và quản lý dữ liệu phù hợp.

Theo bà Giang, khoảng 85-88% lượng phát thải của một sản phẩm cơ khí có thể đến từ nguyên liệu đầu vào như thép, nhôm, thay vì riêng công đoạn gia công tại nhà máy. Vì vậy, giảm phát thải không chỉ là cải thiện hiệu suất sử dụng năng lượng trong sản xuất, mà còn liên quan trực tiếp đến lựa chọn nguyên liệu và khả năng truy xuất thông tin từ các nhà cung cấp.

Nếu không có dữ liệu phát thải thực tế, doanh nghiệp có nguy cơ phải sử dụng giá trị mặc định khi thực hiện các nghĩa vụ liên quan cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU). Điều này có thể làm tăng chi phí và ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Từ thực tiễn đó, yêu cầu đặt ra là doanh nghiệp phải chủ động xây dựng hệ thống dữ liệu, chuẩn hóa quy trình kiểm kê và truy vết carbon, đồng thời từng bước cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng, giảm phế phẩm và tuần hoàn vật liệu.

Với AESC, ông Trần Hải Đăng cho biết doanh nghiệp đã thực hành các tiêu chí môi trường, xã hội và quản trị (ESG) trong 5 năm, lắp đặt điện mặt trời trên toàn bộ nhà xưởng và lập báo cáo ESG định kỳ. Theo ông, đây là yếu tố giúp doanh nghiệp quy mô nhỏ nâng cao khả năng hợp tác với các tập đoàn hàng không quốc tế.

Từ làm chủ công nghệ, phát triển năng lực sản xuất số đến đáp ứng tiêu chuẩn xanh, những yêu cầu mới đang đặt ngành cơ khí Việt Nam trước một quá trình chuyển đổi toàn diện. Doanh nghiệp phải chủ động đầu tư, nâng cao chất lượng quản trị và tăng cường liên kết; trong khi đó, chính sách cần tạo thị trường đủ ổn định, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Chỉ khi chuyển từ gia công đơn lẻ sang làm chủ công nghệ, tích hợp hệ thống và tham gia sâu vào chuỗi giá trị, ngành cơ khí Việt Nam mới có thể khai thác tốt hơn dư địa thị trường toàn cầu, nâng cao giá trị nội địa và tạo nền tảng cho phát triển bền vững.

Có thể bạn quan tâm