Ðọc sách "Lý luận, phê bình văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945"

Trong hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã sáng tạo một nền văn hóa, văn học độc đáo, vừa đủ sức đối kháng mãnh liệt trước sự áp đặt, cưỡng chế của văn hóa xâm lược, vừa đồng hóa phi thường, cái hay, cái đẹp vào nền văn hóa của mình. Tuy vậy, phải thừa nhận, cha ông ta không quen làm nghệ thuật học, chưa tạo dựng có hệ thống một nền mỹ học dân tộc, không quen lập thuyết truyền lại cho đời sau. Lại nữa, do sự hủy hoại của thiên nhiên, sự tàn phá của các cơn binh lửa, cho nên di sản văn hóa phi vật thể còn lại quá ít, ít đến bâng khuâng! Chưa nói các thời đại xa, ngay cả thời trung, cận đại cho đến đầu thế kỷ 20, sự thẩm định những di sản mỹ học, lý luận văn chương, nghệ thuật học của chúng ta cũng mới ở giai đoạn đầu của nhận thức hệ thống.

Vì vậy khi được đọc cuốn "Lý luận, phê bình văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945" của Viện Văn học và được Viện "chọn mặt gửi vàng" cho một nhóm nhà khoa học do PGS, TS, Nguyễn Ngọc Thiện làm chủ biên, chúng tôi cho rằng, đây là công trình có ý nghĩa lịch sử, có giá trị lý luận và tính thực tiễn. Nói ý nghĩa lịch sử bởi những người viết đã tổng kết, đánh giá tương đối khách quan những thành tựu nghiên cứu - phê bình văn học của một giai đoạn lịch sử đầy biến động vào gần nửa thế kỷ trong xã hội và trong văn học ở nước ta, mà những công trình trước đây chỉ xuất hiện lẻ tẻ hoặc từng phần. Công trình này có giá trị lý luận bởi người viết đã nhìn hiện tượng văn chương, tác giả văn học, các khuynh hướng văn học trên cơ sở triết - mỹ mác-xít từ góc nhìn văn hóa. Công trình cũng đáp ứng được vài ba vấn đề cập nhật của thực tiễn văn hóa, văn học với nhận thức mà Nghị quyết Ðại hội IX của Ðảng đã chỉ rõ: "Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc, các giá trị văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết và thuần phong mỹ tục của dân tộc... Tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú nền văn hóa nhân loại".

Về lô-gic cấu trúc công trình gồm Phần mở đầu, Phần kết luận, Phần thư mục nghiên cứu sáu cuộc tranh luận từ trước tới nay, với ba chương gồm gần 500 trang nói về sự phát triển lý luận, phê bình và các tác giả tiêu biểu. Tôn trọng cách chia của tác giả, chúng tôi cho rằng, tính logic, tính hợp lý được thể hiện ở chỗ, những hiện tượng văn hóa lớn, các cuộc tranh luận về Quốc học, về Truyện kiều, về duy tâm hay duy vật, về nghệ thuật vị nghệ thuật hay Nghệ thuật vị nhân sinh... và một số phương pháp nghiên cứu văn học, v.v. đều dựa trên tinh thần dân tộc, được các tác giả triển khai tường tận, nhiều tư liệu quý với mục đích: tôn trọng tối đa những giá trị trong di sản lý luận, phê bình của cha ông.

Không thể đánh giá một cách khách quan, có sức thuyết phục những đóng góp của Vũ Ngọc Phan với Nhà văn hiện đại, của Hoài Thanh và Hoài Chân với Thi nhân Việt Nam, những phương pháp nghiên cứu của Dương Quảng Hàm, Phan Khôi, thậm chí của Trương Tửu... nếu như công trình chỉ dừng lại quy chiếu bằng những tiêu chí mỹ học cách mạng. Lời của Thiếu Sơn được các tác giả nhắc lại: "Dẫu nhận là nước ta có Quốc học hoặc không có Quốc học, thì những nhà đã tham dự vào cuộc tranh luận đó cũng đều đã vì Quốc học mà phát ngôn, có quan tâm sự tiến hóa của Quốc gia, xã hội vậy".

Một thí dụ khác cuộc đấu tranh giữa phái nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh, sau bốn năm tranh cãi, dần dần đã xích lại gần nhau, bổ sung cho nhau, dẫn đến quan điểm hài hòa, là vì giữa họ chỉ khác nhau về thế giới quan, về lời lẽ, nhưng không khác biệt nhau nhiều về những vấn đề thuộc bản thể văn học, đặc biệt là Vấn đề dân tộc trong văn học. Ðối với Phạm Quỳnh, Phan Khôi là những học giả có thế giới quan phức tạp, lại dính níu vào những "vụ án" chính trị và văn nghệ, các tác giả công trình cũng có những đánh giá thỏa đáng, vận dụng khéo léo "kinh nghiệm phủ định" của Lê-nin khi nói đến cái chưa được, cái bất cập của nhà văn hóa ở các thời đại trước, tức là phê phán không phải là mục đích, mà là phương tiện để đạt tới mục đích cao hơn, một phương thức phê bình mà Lê-nin đồng tình với Hê-ghen.

Các chương 2 và 3 nói về sự phát triển của phê bình văn học với các tiểu mục: các hình thức tư duy phê bình; kịch và phê bình kịch và Chân dung mười nhà phê bình tiêu biểu giai đoạn đầu thế kỷ 20. Tôi chú ý ba hình thức tư duy phê bình mỹ học; tư duy phê bình khoa học và tư duy phê bình luận học. Cách chia chỉ là ước lệ. Ðây là phần viết công phu, lập luận chặt chẽ, nhận định đúng mức chứ không lỏng lẻo "hở sườn", đầy cảm tính gán ghép như ở bài viết "Phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX" của cùng tác giả trên tạp chí Nhà văn  năm 2001.

Mặc dù được diễn giải, đánh giá không giống nhau về mười tác giả lý luận, phê bình tiêu biểu, những người viết "không hẹn mà nên" đã gặp nhau ở hai đặc điểm nổi bật ở họ: Một là, lăng kính văn hóa, đặc biệt là ý thức văn hóa dân tộc, lòng tự hào dân tộc: nếu như Phan Khôi vững tin ở nền Quốc học, truyền thống con Rồng cháu Tiên, tranh đấu vì quyền bình đẳng phụ nữ; Thiếu Sơn đề cai vai trò chữ Quốc ngữ, Lê Thanh quan tâm sự đào tạo Quốc văn và văn chương Quốc ngữ thì Hải Triều nhiệt huyết, thẳng thắng trong tranh luận vì sự chiến thắng của chủ nghĩa duy vật ở Việt Nam, nhưng ở ông thể hiện bản lĩnh của người cộng sản, có văn hóa tranh luận, quan tâm đến tương lai của văn hóa, văn nghệ nước nhà.

Với hai cuộc tranh luận duy tâm và duy vật (1933 - 1939) và nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh (1935 - 1939), Hải Triều là ngọn cờ tiên phong trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới. Sau ông là Ðặng Thai Mai với Văn học khái luận, một công trình nghiên cứu tương đối toàn diện những vấn đề lý luận văn học theo quan điểm mác-xít. Có một điều đáng trân trọng là trong các cuộc tranh luận, các vị ở cả hai chiến tuyến đối lập nhau là vậy, "so găng" nhau đến một thua, một được là vậy, nhưng văn hóa tranh luận vẫn là một nét đẹp lấp lánh, chỉ gọi nhau bằng những đại từ nhân xưng của người thanh lịch: Tiên sinh, người, quân, công, v.v.

Hai là, văn hóa Pháp đã ảnh hưởng to lớn đến các nhà văn, nhà nghiên cứu - phê bình đầu thế kỷ. Ðây là sự thật lịch sử, là quy luật tất yếu, đáng trân trọng. Việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, sự ra đời của Gia Ðịnh báo bằng Quốc ngữ ở trong nam, Ðại Việt tân báo ngoài bắc, sự tiếp nhận nền văn học Pháp thế kỷ 18, 19 huy hoàng qua các trí thức, văn nghệ sĩ, việc người Pháp đã đưa môn lịch sử văn học Việt Nam vào chương trình giảng dạy ở bậc trung học... về khách quan là có lợi cho tiến trình văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, ảnh hưởng thường có mặt trái. Nhưng chớ cường điệu. Thí dụ như Hoài Thanh: lâu nay nhiều nhà phê bình quy kết ông theo phái Nghệ thuật vị nghệ thuật. Ðây là một hư thuyết do Theopile Gautier đề xướng đòi hỏi sự tự do tuyệt đối trong sáng tạo và thưởng thức, tách nghệ thuật khỏi đời sống xã hội, có ảnh hưởng trường phái Parnasse về sau. Nhưng nên nhớ rằng, Gautier về sau chuyển sang chủ nghĩa hiện thực, làm thơ triết lý, ngưỡng mộ Huy-gô. Còn những luận điểm của Hoài Thanh: "Văn chương muốn gì thì trước hết phải là văn chương đã..."; "Nhà văn là một người sống giữa xã hội... phải biết bênh vực kẻ yếu, chống lại sức mạnh của tiền tài, của súng đạn"; Cuốn sách "Hay là ở chỗ biết cách tả"; mối quan hệ giữa nhà văn và bạn đọc được ví như đôi tình nhân; sự phân biệt đặc trưng nhà văn và người cầm bút, nhà thơ và anh thợ thơ, tiểu thuyết và báo chí, v.v. theo tôi là không sai và gần với những quan điểm Mác-xít. Cái thiếu hụt của Hoài Thanh chính là ngoài ý thức dân tộc ra, ông không có một triết thuyết nào để bấu víu. Chính ông đã tự thú: "Tôi nhát gan lắm, hễ thấy bóng lý thuyết là sợ...". Hoài Thanh là nhà phê bình đi tìm cái đẹp vị nhân sinh.

Cuốn Lý luận phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX cho đến 1945 sẽ hoàn hảo, nếu như các tác giả mở rộng tiến trình phát triển học thuật đến các địa bàn ở các đô thị phía nam; bởi ở Huế và Sài Gòn và vài đô thị khác phong trào học thuật, nghiên cứu - phê bình - báo chí thời đó thật rầm rộ. Thí dụ: những hoạt động tuyên truyền yêu nước, diễn thuyết của Phan Chu Chinh, Phan Bội Châu, Ngô Ðức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp... Tờ Lục tỉnh tân văn được nhiều nhà văn, nhà báo, học giả cộng tác như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Dương Bá Trạc, v.v. Trương Vĩnh Ký là chủ bút tờ Gia Ðịnh báo viết bằng Quốc ngữ đầu tiên (1865); những bài phê phán thơ Tôn Thọ Tường, v.v. Tất cả dù trực tiếp hay gián tiếp, nhiều hay ít đều đã góp phần vào sự phát triển văn hóa dân tộc thời điểm đó, cần được tôn trọng.

Có thể bạn quan tâm