Độc đáo miền di sản Óc Eo-Ba Thê

Giữa cánh đồng mênh mông của xã Óc Eo, tỉnh An Giang, núi Ba Thê nổi lên như một nhân chứng thời gian về một đô thị cổ. Từ trên đỉnh núi nhìn xuống, những thửa ruộng, xóm làng và dòng kênh nối dài tạo nên khung cảnh yên bình của miền quê. Ít ai nghĩ rằng, dưới lớp đất bình dị ấy là những dấu tích rực rỡ của một nền văn minh xưa.

Khu dân cư yên bình tại xã Óc Eo, tỉnh An Giang. (Ảnh: THANH DŨNG)
Khu dân cư yên bình tại xã Óc Eo, tỉnh An Giang. (Ảnh: THANH DŨNG)

Đường lên núi Ba Thê đưa du khách bước vào không gian xanh mát, nghe tiếng chim rừng và ngắm cánh đồng trải rộng. Trên đỉnh núi cao 226m, ngôi cổ tự Sân Tiên cùng cảnh quan tự nhiên tạo điểm dừng chân thu hút khách hành hương và người trẻ đến tham quan, check-in cảnh đẹp núi rừng.

Con đường di sản

Sức hấp dẫn của Ba Thê không chỉ nằm ở cảnh sắc. Đây là vùng đất gắn với nền văn hóa Óc Eo rực rỡ... Năm 1944, nhà khảo cổ người Pháp Louis Malleret tiến hành khai quật tại Gò Óc Eo và những nhát xẻng đầu tiên mở ra những dấu tích vương quốc cổ. Sau năm 1975, các nhà khoa học Việt Nam tiếp tục khảo sát, khai quật, từng bước làm sáng tỏ diện mạo Óc Eo-Ba Thê.

Trong giai đoạn 2017-2021, đề án nghiên cứu cấp quốc gia do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam triển khai đã có nhiều phát hiện quan trọng. Hơn 730.000 hạt chuỗi thủy tinh cùng nguyên liệu chế tác được tìm thấy tại Gò Óc Eo, cho thấy nơi đây từng là trung tâm sản xuất và lưu thông hạt chuỗi quy mô lớn. Cùng với đó, các dấu tích kiến trúc tôn giáo, văn bia và hiện vật tại nhiều địa điểm khác cung cấp tư liệu về đời sống, tín ngưỡng và hoạt động giao thương của cư dân xưa.

Khu di tích Óc Eo-Ba Thê gồm núi Ba Thê là trung tâm của không gian thiêng và hệ thống kiến trúc tôn giáo; đô thị cổ Óc Eo với mạng lưới cư trú-kiến trúc-kênh đào; Giồng Xoài và Nền Chùa là hai địa điểm vệ tinh quan trọng trong cấu trúc cảnh quan giao thương của khu vực.

Qua phân loại, Khu di tích Óc Eo-Ba Thê gồm núi Ba Thê là trung tâm của không gian thiêng và hệ thống kiến trúc tôn giáo; đô thị cổ Óc Eo với mạng lưới cư trú-kiến trúc-kênh đào; Giồng Xoài và Nền Chùa là hai địa điểm vệ tinh quan trọng trong cấu trúc cảnh quan giao thương của khu vực. Khu di tích nằm trải dài theo vành đai núi, thuộc ấp Trung Sơn.

Chúng tôi men theo con đường di sản, đến khu đô thị Óc Eo gồm sáu di tích, trong đó Gò Cây Thị B - một trong quần thể kiến trúc độc đáo từng được gọi là “Gò chôn của” hay “hầm vàng”, gắn với những câu chuyện về việc đào tìm vàng trong dân gian. Bên trong gò, những hố khai quật, các lớp gạch cổ xếp nối tiếp nhau nhuốm màu rêu phong gợi lên hình ảnh một vùng đất sôi động. Trong không gian tĩnh lặng, làn gió rì rào như tiếng vọng ngàn xưa hòa lẫn giá trị của những di vật đang hiện hữu.

Trên con đường di sản, chùa Linh Sơn (còn gọi chùa Phật Bốn Tay) là một trong các điểm đến nổi bật, nơi những giá trị tâm linh hiện diện cùng các tàn tích. Ngôi chùa lưu giữ pho tượng thần Vishnu khổng lồ cùng hai phiến đá cổ thuộc văn hóa Phù Nam. Theo Tiến sĩ Ngô Quáng Láng, nguyên Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao, Du lịch An Giang, tượng cổ tại chùa Linh Sơn và tượng Bà Chúa Xứ núi Sam cho đến nay là hai tượng quý hiếm có của nền văn hóa Óc Eo mà tỉnh đang sở hữu.

Chúng tôi theo bậc thang đá viếng chùa, dạo quanh những cây đại thụ mọc xum xuê tỏa bóng mát rượi, ngôi chùa nhỏ nhưng kiến trúc trang nhã, là địa chỉ du lịch tâm linh nổi tiếng trong vùng. Năm 1988, chùa Linh Sơn được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia. Trong sân chùa, những cuộc khai quật đã phát hiện nhiều hiện vật có niên đại từ khoảng thế kỷ I trước Công nguyên đến sau thế kỷ XII, góp phần làm rõ chiều sâu lịch sử của vùng đất cổ.

Để di sản bước vào đời sống

Ông Lâm Văn Phụ, ngụ ấp Trung Sơn, 83 năm gắn bó núi rừng Ba Thê là một trong những chứng nhân thời gian, trở thành cầu nối giữa ký ức và hành trình tìm hiểu quá khứ của các nhà khoa học. Ông kể, nơi đây xưa núi đồi heo hút, nhà cửa thưa thớt, lau sậy mọc dày đặc. Chim muông, thú rừng xuất hiện nhiều; vào tháng 10 âm lịch, người dân còn đi bắt trăn lấy da làm mặt trống cơm. Theo thời gian, người dân đến khai hoang, làm ruộng, làm vườn; từ đó, nhiều dấu tích cổ dần xuất hiện. Khi đào đất, nông dân bắt gặp hũ, bình, mảnh gốm, chuỗi ngọc, đá quý...

Ông Phụ nhớ lại: “Lúc đầu, không biết đó là đồ cổ thời Óc Eo nên vứt lung tung. Những cổ vật làm bằng gốm sứ bị vùi lấp hàng thế kỷ, khi tôi và nhiều người chưa có kinh nghiệm kéo lên hay bị bể, vỡ, nghĩ lại tiếc quá”. Cũng theo lời ông Phụ, sau những trận mưa lớn, người dân phát hiện đồ trang sức bằng vàng, những thỏi vàng to như quả trứng lộ ra trên nền đất. Tin đồn về kho báu cổ lan truyền, dòng người các nơi đổ xô đến đào bới, tìm vàng. Chính quyền địa phương phải can thiệp nhằm ngăn chặn việc xâm phạm di tích và bảo đảm trật tự.

Chúng tôi đến Nhà trưng bày văn hóa Óc Eo (xã Óc Eo) do Ban Quản lý Di tích Văn hóa Óc Eo quản lý. Khá nhiều hiện vật Óc Eo đang được trưng bày tại đây. Ông Nguyễn Văn Nhiên, Giám đốc Ban Quản lý Di tích Văn hóa Óc Eo cho biết, đơn vị hiện lưu giữ hơn 4.000 hiện vật và khoảng 3 triệu mẫu vật. Trong đó có bốn bảo vật quốc gia: Đầu tượng Phật Linh Sơn Bắc, Phù điêu Phật Linh Sơn Bắc, Mộ vò Gò Cây Trâm và Nhẫn Nandin Giồng Cát. Thông qua vận động và tuyên truyền, Ban Quản lý đã tiếp nhận hiện vật của gần 75 tổ chức, cá nhân hiến tặng. Những món đồ gốm, gạch kiến trúc, chuỗi đá quý, chuỗi thủy tinh, các hiện vật liên quan sinh hoạt, tín ngưỡng bổ sung nguồn tư liệu cho nghiên cứu, trưng bày và giới thiệu di sản.

Bảo tồn những dấu tích xưa là việc lâu dài, nhưng làm sao để công chúng hiểu và yêu quý. Nếu chỉ nhìn thấy những nền gạch cũ, hố khai quật hay cổ vật trong tủ trưng bày, nhiều du khách khó hình dung đầy đủ về một đô thị từng phát triển và giao thương sôi động. Vì vậy, Ban Quản lý Di tích Văn hóa Óc Eo định hướng gắn bảo tồn với đổi mới hoạt động trưng bày, thuyết minh và phục vụ khách tham quan. Các giải pháp được đặt ra gồm cải thiện cảnh quan, bổ sung biển chỉ dẫn, ứng dụng mã QR, công nghệ số và hình ảnh phục dựng 3D giúp du khách cảm nhận rõ hơn.

Đối với học sinh, sinh viên và người trẻ, những chương trình ngoại khóa, hành trình tìm hiểu lịch sử, hoạt động nhận diện hiện vật và trải nghiệm khảo cổ học có thể tạo cách tiếp cận trực quan hơn. Video ngắn, mạng xã hội, cuộc thi tìm hiểu di sản, sáng tạo nội dung số và hoạt động tình nguyện bảo vệ di tích cũng là những hướng đi được tính đến.

Ban Quản lý mong muốn mỗi du khách khi đến với Óc Eo-Ba Thê không chỉ nhìn thấy những hiện vật vô giá của một nền văn minh cổ, mà còn có thể hiểu được đời sống, tín ngưỡng, kiến trúc, giao thương và sự giao lưu văn hóa của cư dân Óc Eo. Đó cũng là mục tiêu lâu dài của Ban Quản lý, giữ gìn nguyên vẹn những giá trị người xưa để lại, đồng thời thổi hồn bằng những câu chuyện kể theo những phương thức gần gũi, sinh động và hấp dẫn hơn, để di sản không chỉ được bảo tồn mà còn thật sự “sống” trong đời sống cộng đồng, trở thành điểm đến có sức hút đối với du khách trong nước và quốc tế.

Có thể bạn quan tâm