Với các thiên bút ký sắc sảo "Thủ tục làm người", "Người không cô đơn"... anh đã làm lay động trái tim hàng triệu độc giả. Cũng chính từ lúc đó cái tên Minh Chuyên ngày càng được nhiều bạn đọc biết đến và nhiều người yêu mến. Tên tuổi của anh do anh tạo lập đã tự làm nên một giá trị đáng để lưu lại trong lòng bạn đọc. Tôi cũng ngưỡng mộ anh bắt đầu từ đó. Và cũng kể từ đó, như một lẽ tự nhiên, tôi thường đọc hết các tác phẩm có tên Minh Chuyên in trên các báo, xem các bộ phim truyền hình đề tên anh làm đạo diễn...
Lần này, tôi bị cuốn hút bởi bộ sách Kịch bản truyền hình của anh, mỗi cuốn dày tới cả nghìn trang mà anh đề là Kịch bản truyền hình - kịch bản văn học (*). Tôi đã đọc từ đầu đến cuối. Càng đọc tôi càng cảm thấy những câu chuyện anh viết về người thật việc thật mà rất hấp dẫn. Hóa ra nhà văn kiêm đạo diễn Minh Chuyên khi viết kịch bản truyền hình dù là kịch bản phim truyện hay là kịch bản phim phóng sự anh đều còn nhằm hướng tới mục đích khác nữa là làm văn học.
Có một đặc điểm khác với các loại kịch bản khác là những câu chuyện anh viết thành kịch bản truyền hình đều nhằm để phục vụ công việc làm báo hình nên đều viết về những câu chuyện có thật. Anh không thể bịa ra nhiều hơn những cái gì như đã có. Bởi báo chí đòi hỏi rất cao về tính xác thực của sự thật. Nhưng người đọc sẽ ngạc nhiên khi thấy thực tại sau khi được nhìn nhận và nhào nặn thông qua cảm quan ngòi bút của Minh Chuyên.
Với ý đồ chủ quan của mình anh đã tái tạo lại "sự thật" theo hướng làm cho hiện thực trở nên phong phú và sinh động hơn, chứ không phải đơn thuần phản ánh một cách trần trụi như công việc của báo chí thông thường vẫn làm. Các câu chuyện trong các kịch bản của anh viết đọc rất cảm động và hấp dẫn như những truyện ngắn. Ở đó có cốt truyện, các chi tiết và tình tiết của câu chuyện luôn được tác giả chú ý dụng công gọt giũa, cái gì sẽ lướt qua, cái gì cần phải khắc sâu để gây ấn tượng. Anh viết về mọi thứ cứ tự nhiên như là sáng tác văn xuôi. Anh phóng bút miêu tả các tình tiết, chi tiết, sử dụng các ngôn từ ...
Ðến khi dựng phim anh mới lại phân cảnh và đạo diễn theo một ý đồ sáng tạo mới. Ðọc kịch bản truyền hình văn học của anh, tôi thiết tưởng đây là một thể loại kịch mới, tạm gọi là thể loại Kịch bản văn học phim truyền hình. Bộ ba tác phẩm Kịch bản truyền hình của anh đã nói lên điều đó.
Hầu hết những người làm phim truyền hình khi bắt tay vào làm phim họ không viết kịch bản văn học một cách cẩn thận như vậy. Họ thường chỉ viết kịch bản phân cảnh rồi sau đó quay luôn. Còn Minh Chuyên thì anh đã làm nhiều hơn người khác một khâu là viết thành kịch bản văn học trước khi là một kịch bản phân cảnh để quay. Anh đã viết kịch bản văn học rất cẩn thận và sử dụng hết mọi khả năng tìm tòi, sáng tạo.
Ðọc hai tâp kịch bản truyền hình của Minh Chuyên, tôi thấy có nhiều đoạn ngồn ngộn chất sống của hiện thực. Nhiều chi tiết anh sử dụng không thể có ở thể loại khác mà chỉ có thể thấy ở trong văn xuôi. Ðây là một đoạn anh tả về cái chết của chiến sĩ Trần Quang trong một lần đi gùi gạo băng rừng ở chiến trường phía tây rừng Sắc Rông năm 1972. Hai anh đồng đội là Phạm Tường và Bùi Minh phải mất năm ngày tìm kiếm mới thấy.
Ngôn ngữ này đúng là ngôn ngữ văn xuôi hơn ngôn ngữ của kịch: "Tường và Minh ngồi ăn cơm, thỉnh thoảng mắt vẫn hướng về phía đống mối. Bỗng dưng cả hai cùng kinh ngạc. Mô đất mối xông hình người bên gốc cây đối diện tự nhiên lúc lắc, cựa quậy.
Tường và Minh trấn tĩnh rồi khe khẽ bước lại phía đống đất. Ðúng là một ổ mối, một ổ mối rất giống hình người ngồi tựa lưng vào gốc cây. Phần đầu cựa quậy làm một mảnh đất vỡ ra. Tường đoán có thể là một người ngồi chết bị mối xông. Minh lấy một khúc cây đập đập và dùng lưỡi dao găm rạch phần trên ổ mối, đất bở ra, một cái mặt người trật ra. Tường và Minh sửng sốt cùng nhận ra cái mặt người ấy là Quang.
- Trời ơi! Quang. Ðúng là Quang rồi. Sao cậu lại ra nông nỗi này Quang ơi.
Tường và Minh cuống quýt bóc tách ổ mối bao quanh người Quang. Cả ba lô gạo sau lưng Quang cũng bị mối xông kín. Bóc Quang ra khỏi ổ mối, đặt anh nằm xuống, vừa lau chùi, Tường và Minh vừa thay nhau thổi ngạt, hà hơi tiếp sức cho Quang. Sờ lên ngực, nhịp tim Quang vẫn đập nhưng yếu. Hơi thở chỉ còn nhè nhẹ. Người lạnh toát. Chừng hơn mười phút sau, trái tim Quang ngừng hẳn, hơi thở cũng không còn, anh vĩnh viễn ra đi" (Chuyện ở rừng thiêng). Một cái chết kinh rợn như vậy người viết dù có cố gắng đến đâu trong việc sử dụng các thủ pháp ngôn ngữ điện ảnh thì cũng không thể diễn tả tốt bằng văn học và cảm nhận theo dòng cảm xúc của văn học.
Hoặc là chi tiết tả về người lính Mỹ, đây dứt khoát phải là chi tiết chỉ có trong văn xuôi. Người ta không thể nào dựng lại bằng phim về chi tiết này "Một lính Mỹ da đen là HơBơtcattin cùng tốp lính đang thực hiện hành động giết người. Nhìn cảnh người dân chết chồng chất, không chịu nổi, đã tự bắn vào chân mình để không phải tiếp tục tham gia gây tội ác" (Ám ảnh chiến tranh).
Trong bộ sách dày ba tập Kịch bản truyền hình của Minh Chuyên ở trong mỗi kịch bản đều có thể đọc được những đoạn văn hàm súc và giàu tính nhân văn như vậy. Có thể nói, ngòi bút của Minh Chuyên luôn không ngừng sáng tạo và tỏ ra sắc sảo trong cách thể hiện.
Bộ sách này là một đóng góp đáng ghi nhận của nhà văn Minh Chuyên cho lĩnh vực viết kịch bản truyền hình. Sẽ là còn thiếu sót nếu không kể đến những thành tích mà anh đã đạt được. Anh đã từng nhận 32 giải thưởng văn học nghệ thuật ở trong nước và quốc tế với 8 giải nhất, 9 Huy chương vàng, 3 giải thưởng quốc tế, 1 cúp vàng... Anh còn là tác giả của tiểu thuyết Người lạc về đâu (1995); các tập truyện ngắn: Miền quê anh đến (1985), Nhớ Su- ren-cô (1986), Người gặp trong mơ (1990); các tập ký: Thử thách (1994), Người không cô đơn (1996), Bút ký Minh Chuyên (1997), Ðiểm tựa cuộc đời (1997), Di họa chiến tranh (1998), Nỗi kinh hoàng (2004), Hậu chiến Việt Nam (2004)...
………….
(*) Kịch bản truyền hình (kịch văn học), của Minh Chuyên, tập 1 (2006), tập 2 (2007), tập 3 (2008).