Cách đây ít lâu, UBND thành phố Đà Nẵng phối hợp Chi nhánh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tại Đà Nẵng tổ chức cuộc gặp, đối thoại giữa lãnh đạo thành phố với gần 200 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng xuất nhập khẩu trên địa bàn. Tại đó, bà Lê Thị Mai Hương, chủ doanh nghiệp tư nhân (DNTN) Mai Hương đã phê phán, chỉ trích gay gắt Hải quan Đà Nẵng gây khó khăn, tính thuế sai, cưỡng chế sai một lô hàng nhập khẩu hệ thống đốt lò nung kỹ thuật cao của doanh nghiệp này. Một số báo lập tức đưa tin. Nhưng, mới đây, qua đối chất, tra cứu hồ sơ và làm việc, sự thật gần như ngược lại!
Về nguyên tắc chung, doanh nghiệp này được tự khai hàng nhập khẩu theo loại hình kinh doanh, tự kê khai tính thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng (GTGT). Vấn đề mà bà Mai Hương khiếu nại chủ yếu xoay quanh Tờ khai số 304/NK/KD/KV1 ngày 12-12-2002 qua Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đà Nẵng. Trước hết, phải làm sáng tỏ vì sao DNTN Mai Hương phải kiểm hóa đến tám ngày?
Thực tế, theo hồ sơ lưu, khoảng 9 giờ ngày 12-12-2002, DNTN Mai Hương nộp hồ sơ Hải quan. 15 phút sau, Hải quan cảng Đà Nẵng đã đăng ký xong tờ khai ấy. Nhưng do số Seal giữa hồ sơ và thực tế của container chứa hàng bị sai (hồ sơ là 202248; container là 2056565) và lô hàng có đến năm loại máy móc, thiết bị đã qua sử dụng, 15 giờ cùng ngày, tại bãi cảng sông Hàn - cảng Đà Nẵng, công tác kiểm tra của hải quan bắt đầu. Bỗng nhiên trời mưa to hơn. DNTN Mai Hương đề nghị tạm dừng (có biên bản chứng nhận). Sáng ngày 13, tổ chức kiểm tra tiếp. Trời lại mưa, DNTN Mai Hương lại xin dừng kiểm tra (có biên bản xác thực). Tiếp đó, DNTN này có "sáng kiến" (thông qua Công văn 12/CV/MH) đưa hàng nhập khẩu ấy về kho của doanh nghiệp (tại Hòa Cầm, Hòa Thọ, Hòa Vang, Đà Nẵng) để Hải quan Đà Nẵng kiểm tra sau. Hải quan Đà Nẵng chấp nhận. Song, các ngày 14 và 15-12-2002 là thứ bảy và chủ nhật; DNTN Mai Hương không đăng ký xin kiểm tra ngoài giờ hành chính. Thứ hai, ngày 16-12-2002, Hải quan Đà Nẵng bắt đầu kiểm tra hàng nhập của doanh nghiệp này lúc 13 giờ 30 phút và kết thúc lúc 17 giờ cùng ngày.
Qua kiểm tra, Hải quan Đà Nẵng phát hiện: Trong lô hàng nhập khẩu này có năm loại máy, thiết bị đã qua sử dụng. Vào thời điểm ấy, đương nhiên bị điều chỉnh bởi Quyết định số 2019/1997/QĐ-BKHCNMT ký ngày 1-12-1997 và Quyết định số 491/1998/QĐ-BKHCNMT ký ngày 29-4-1998 đều của Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường. Còn phát hiện 31 bình mẫu ceramic có ghi trong Bản kê khai chi tiết; nhưng không khai trong Tờ khai Hải quan! Hải quan Đà Nẵng làm đúng luật định, đã phải niêm phong, đợi giám định số bình mẫu ấy. Để "gỡ", ngày 18-12-2002, DNTN Mai Hương có công văn xin tách 31 bình mẫu nói trên sang giá tính thuế khác. Hải quan Đà Nẵng đồng ý, đã tính lại thuế và 10 giờ 30 phút ngày 19-12-2002 đã mở niêm phong (Hải quan) cho số hàng ấy của doanh nghiệp (có biên bản chứng nhận).
Trong quá trình kiểm tra này, Hải quan Đà Nẵng không yêu cầu doanh nghiệp này tháo rời thêm bất cứ bộ phận nào (so với Bản khai chi tiết) để kiểm tra. Như vậy, Hải quan Đà Nẵng đã làm đúng. Ngoại trừ một số nhân tố khách quan (như trời mưa, ngày nghỉ mà doanh nghiệp không yêu cầu kiểm tra), Hải quan Đà Nẵng đã đăng ký tờ khai và kiểm hóa lô hàng thực tế cộng lại chưa hết một ngày. Phức tạp và kéo dài là do DNTN Mai Hương không trực tiếp đi làm thủ tục Hải quan. Chiều 17-3-2004, bà Lê Thị Mai Hương công nhận sai là do bà đã ủy thác cho VietFracht Đà Nẵng đi làm hộ, từ đó khai báo không chính xác...
Song, quan trọng hơn, điều mà bà Lê Thị Mai Hương luôn khiếu nại, là cách tính thuế cho lô hàng đang đề cập. Theo bà, lẽ ra TP Đà Nẵng đang mời gọi đầu tư, kêu gọi đổi mới công nghệ, lô hàng ấy của doanh nghiệp bà phải được hưởng thuế suất bằng 0%; chứ không phải chịu thuế "oan uổng" đến 201 triệu 579 nghìn 429 đồng. Lý của bà là DNTN Mai Hương có Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư... Đáng tiếc, qua kiểm tra, đối chứng và đối thoại, sự thật đã chứng minh: Thời điểm hàng về cảng (căn cứ Tờ khai số 304 kể trên) là 12-12-2002.
Trong máy vi tính chủ của UBND thành phố Đà Nẵng, ngày cấp Giấy phép ưu đãi đầu tư số 20/GCN UB cho DNTN Mai Hương là ngày 3-6-2003. Như vậy, sau gần sáu tháng! Bằng Công văn số 0208/CV, ký ngày 26-8-2003, DNTN Mai Hương mới đề nghị Hải quan Đà Nẵng miễn thuế, yêu cầu đánh thuế suất 0% cho lô hàng ấy (có kèm theo Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư vừa kể). Công văn này đến Hải quan Đà Nẵng ngày 1-9 cùng năm. Rõ ràng, so với ngày hàng về cảng, DNTN Mai Hương đã nộp chậm Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư đến... chín tháng! Đồng chí Tiến Lê, Cục trưởng Hải quan Đà Nẵng cho biết: "Gan to mấy, chúng tôi cũng không thể linh động vận dụng những hướng dẫn tại Công văn số 5565/TCHQ-KTTT ngày 11-12-2001 của Tổng cục Hải quan. Dĩ nhiên, đã phạm quy, phải tính thuế đúng mục thuế quy định!". Trong tổng thuế DNTN Mai Hương phải nộp (201 triệu 579 nghìn 429 đồng) bao gồm cả hai khoản (thuế nhập khẩu là 135 triệu 836 nghìn 875 đồng chỉ của hai mặt hàng tấm lợp ceramic và tấm kê ceramic và thuế GTGT của bảy mặt hàng trong tờ khai là 67 triệu 742 nghìn 554 đồng). Nhưng DNTN Mai Hương vẫn kiên gan phản ứng. Ngày 3-3-2004, Tổng cục Hải quan Việt Nam đành phải có Công văn số 947/TCHQ-KTTT trả lời rõ: "... Việc hàng nhập khẩu về trước ngày cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư quá hai tháng, cho nên không được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư theo quy định"...
Vẫn chưa chịu! Bởi vậy, 14 giờ ngày 17-3-2004, lãnh đạo Cục Hải quan Đà Nẵng đã phải làm việc trực tiếp với bà Lê Thị Mai Hương. Qua buổi làm việc này, căn cứ Bản trình số 268/HQĐNg-NV, ký ngày 29-3-2004, cho thấy: "Bà Lê Thị Mai Hương đã thừa nhận: Doanh nghiệp không trực tiếp đi làm thủ tục Hải quan, mà ủy thác (...). Doanh nghiệp cũng không có văn bản, hoặc trao đổi trực tiếp với Cục Hải quan Đà Nẵng". Bà Hương "coi đây là bài học kinh nghiệm, nhận thiếu sót". Sai rõ là vậy, nhưng bà Mai Hương lại cố tình "đẩy đòn" sang phía báo chí là đưa những thông tin không đúng(?), mà quên rằng đó chính là phản ánh ý kiến của bà trong cuộc họp ngày 10-3-2004. Hiện nay, Hải quan Đà Nẵng tiếp tục yêu cầu DNTN Mai Hương "phải có công văn giải trình, thấy rõ những thiếu sót", thì Hải quan Đà Nẵng mới báo cáo Tổng cục Hải quan xem xét vấn đề...