Ðối với người dân xứ Quảng xưa và nay, đình làng chính là ngôi nhà chung. Ðó là một ngôi nhà to, rộng được dựng bằng những cột gỗ mít tròn, to, thẳng tắp, kê trên những hòn đá tảng lớn. Vì kèo, xà ngang, xà dọc của đình cũng làm toàn bằng gỗ mít. Tường đình xây bằng gạch. Mái đình lợp ngói âm dương, bốn bờ chái trang trí hình hoa lá cách điệu hoặc tứ linh 'long, lân, quy, phụng'. Trên nóc đình là hai con rồng chầu mặt nguyệt hay tranh châu. Sân đình được lát gạch. Trước đình là bức bình phong chạm nổi hình cuốn thư, con hổ, con nghê hay các điển tích dân gian. Trước đình có hai cột trụ cổng cao vút. Trong đình, gian giữa có bàn thờ, thờ vị thần của làng gọi là Thành Hoàng hay các vị Tiền hiền, Hậu hiền, các bài vị, sắc phong... Một chiếc trống cái cũng được để trong đình để đánh vang lên theo nhịp ngũ liên, thúc giục dân làng về đình tụ họp, bàn tính công việc của làng...
Ðình làng xứ Quảng thường được xây dựng gắn với quá trình khẩn hoang, khai ấp, lập nên làng xã của các bậc tiền nhân trong quá trình di dân từ các xứ Thanh, Nghệ, Tĩnh vào vùng đất phên dậu Quảng Nam trong quá khứ. Trải qua bao thế hệ, sau khi đã an cư lập nghiệp, lập thành làng xóm, cuộc sống dần dần đi vào ổn định thì con cháu các họ tộc trong từng làng cùng nhau góp công, góp của xây dựng một ngôi đình để thờ tự, tưởng nhớ và ghi ơn những bậc tiền nhân, những vị tiền bối đã có công khẩn hoang, khai phá lập nên làng xã. Tùy vào điều kiện và quy mô của mỗi làng mà ngôi đình làng được xây to hay nhỏ, nhưng tựu trung, đó là công sức đóng góp của cả dân làng, của các chư họ tộc trong làng vì mục đích tri ân những bậc tiền nhân. Và thời gian xây đình phụ thuộc vào quá trình di dân, di cư hay quá trình an cư lạc nghiệp, ổn định cuộc sống. Như đình Chiên Ðàn (xã Tam An, Phú Ninh) được xây dựng vào khoảng năm 1471-1473, đình Không chái (xã Ðại Hòa, Ðiện Bàn) tương truyền được xây dựng vào thời vua Lê Thánh Tông (1471), đình làng Thanh Quýt (xã Ðiện Thắng Trung, Ðiện Bàn) được xây dựng vào đầu thế kỷ 16, đình Long Xuyên (thị trấn Nam Phước, Duy Xuyên) được xây dựng vào năm 1749, đình Hương Trà (phường Hòa Hương, Tam Kỳ) được xây dựng vào nửa đầu thế kỷ 18, đình Thái Ðông (xã Bình Nam, Thăng Bình) được xây dựng vào năm 1778, v.v.
Cũng như bao làng quê khác, đình làng ở Quảng Nam thường được xây dựng trên đất công thổ, công điền của làng. Người từ 18 tuổi trở lên được nhận ruộng công về làm và nộp hoa lợi cho đình hoạt động. Mỗi khi ra đình phân biệt mâm ăn và chiếu ngồi, chia phần... Bởi vậy, không ngoa khi nói rằng 'một miếng giữa làng hơn một sàng xó bếp'... Như vậy, đình làng diễn ra sự phân chia đẳng cấp rất chặt chẽ, trọng tuổi hơn trọng chức sắc, là nơi quyết định số phận kinh tế, chính trị và tâm tư tình cảm của người dân.
Có thể nói, đình làng là một nét đẹp, là biểu trưng văn hóa của xóm làng xứ Quảng, từ thuở còn nằm nôi đã in vào tâm khảm mỗi con người qua câu ca dao quen thuộc: Hôm qua tát nước đầu đình/Ðể quên chiếc áo trên cành hoa sen.
Từ bao đời nay, đình làng là hình ảnh thân quen, gắn bó với tâm hồn của mọi người dân xứ Quảng, là nơi chứng kiến những sinh hoạt, lề thói và mọi đổi thay trong đời sống xã hội của làng quê qua bao thế kỷ. Cái đình trang trọng và thiêng liêng, nó gần như đại diện, là biểu tượng của quyền lực làng xã. Nhưng đình làng lại là nơi tụ họp mọi người trong mọi sinh hoạt chung, vốn rất cần cho cuộc sống nông thôn cần có sự nương tựa, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau. Chính vì vậy, đình làng trở thành một nơi thân quen gần gũi, là nơi che chở, là nơi ở, là cuộc sống của những người dân xứ Quảng, là cái để nhớ, để ngưỡng vọng trên những hành trình xa quê hương tha phương cầu thực, mưu sinh.
Lễ hội ở đình làng mang lại niềm vui cho mọi người, mang nhiều yếu tố truyền thống, nhân văn sâu sắc. Là nơi con cháu trong làng và các chư tộc tụ họp, thắp nén nhang tưởng nhớ, tri ân những vị tiền hiền, những thế hệ cha ông đi trước đã có công đức với làng. Là nơi bà con họ hàng, làng trên xóm dưới có dịp gặp nhau để trao đổi chuyện gia đình, chuyện lao động sản xuất... hay những vị cao niên cùng nhau nhấp chén rượu, chén trà, ngồi kể cho lớp trẻ tuổi về truyền thống, lịch sử của làng, của đình... Trong lễ hội thường diễn ra nhiều trò chơi dân gian như: kéo co, đi cà kheo, đánh vật... Vào những ngày lễ, tết, dân làng đến đình thắp hương tế lễ nhộn nhịp, cầu mong Thành Hoàng và trời đất giúp cho mưa thuận gió hòa, cày cấy, làm ăn thuận tiện và có nhiều phúc lành. Mùa xuân đến, sân đình trở thành một sâu khấu hát chèo, hát bã trạo, hát bài chòi hay hát hò khoan đối đáp hoặc để đấu cờ, chọi gà, múa hát giao duyên. Ðình làng còn là nơi trai thanh nữ tú trong làng hẹn hò tình yêu.
Không những thế, đình làng xứ Quảng còn chứng kiến biết bao sự kiện lịch sử bi hùng của làng xã, của quê hương; gắn liền với bao biến cố và ghi dấu ấn về lịch sử cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ví như từ bữa đám giỗ lịch sử tại đình làng Phiếm Ái (thị trấn Ái Nghĩa, Ðại Lộc) đã khởi đầu phong trào chống sưu, thuế 1908 ở Quảng Nam và Trung Kỳ. Rồi trong kháng chiến chống thực dân Pháp, một số ngôi đình được tháo dỡ để phục vụ việc 'tiêu thổ kháng chiến' như đình làng Trung Lộc (xã Quế Lộc, Nông Sơn), đình làng Diêm Trường (xã Tam Giang, huyện Núi Thành). Một số ngôi đình cũng đã trở thành nơi hội họp, nơi đưa ra những chủ trương, đường lối đấu tranh đúng đắn của cách mạng, như đình Long Xuyên (thị trấn Nam Phước, Duy Xuyên) đã từng được Tỉnh ủy Quảng Nam sử dụng làm nơi hội họp vào những năm 1939-1940. Cách mạng Tháng Tám thành công, một số ngôi đình lại là nơi làm việc của chính quyền cách mạng, nơi tổ chức các lớp dạy học, nơi thành lập các đội tự vệ chiến đấu hay được chọn làm nơi huấn luyện hoặc nơi cất giấu lương thực, vũ khí...
Cũng như bao làng quê khác trong cả nước, ngày nay đình làng ở Quảng Nam còn là nơi sinh hoạt truyền thống của các tộc họ, nơi tuyên dương những gia đình văn hóa, những gương hiếu học, dâu hiền rể thảo, những công dân gương mẫu ở địa phương... Với những ý nghĩa đó, mong sao hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình trường tồn mãi với thời gian, với những làng quê xứ Quảng thanh bình.