Định hình tương lai nhân lực công nghệ sinh học

Nhu cầu nhân lực công nghệ sinh học tại Việt Nam đang chuyển dịch mạnh mẽ từ ưu tiên nghiên cứu thuần túy sang yêu cầu năng lực liên ngành gắn liền với sản xuất và thị trường.

Hướng dẫn sinh viên nghiên cứu nuôi cấy mô tại Trung tâm Công nghệ sinh học Đà Nẵng. (Ảnh: VINH CÔNG)
Hướng dẫn sinh viên nghiên cứu nuôi cấy mô tại Trung tâm Công nghệ sinh học Đà Nẵng. (Ảnh: VINH CÔNG)

Tín hiệu từ thị trường

Theo dự báo, trong 5-10 năm tới, nhu cầu nhân lực công nghệ sinh học tại Việt Nam sẽ tăng mạnh về số lượng lẫn chất lượng. Trọng tâm nhu cầu nhân lực hướng đến đội ngũ kỹ sư có khả năng làm chủ các dây chuyền công nghệ sinh học quy mô công nghiệp, đáp ứng khắt khe các tiêu chuẩn về kiểm soát chất lượng, tối ưu hóa quy trình chuyển giao và tích hợp quản trị dữ liệu trong toàn bộ chuỗi giá trị hiện đại. Các chuyên gia nhấn mạnh đến mức độ thích ứng trước những thay đổi nhanh chóng của kỷ nguyên số, khi nhiều công nghệ sinh học mới đòi hỏi sức mạnh tính toán lớn và khả năng tương tác giữa sinh học với kỹ thuật số.

Tiến sĩ Phạm Châu Huỳnh, Giám đốc Trung tâm Công nghệ sinh học Đà Nẵng cho biết: “Từ một khảo sát nhanh 20 tin tuyển dụng Bioprocess Engineer (kỹ sư công nghệ sinh học) đầu năm 2025, chúng tôi nhận thấy những tín hiệu rất rõ về sự thay đổi của thị trường lao động khi có đến 17/20 vị trí yêu cầu kỹ năng Python và Machine Learning cơ bản. Nhìn xa hơn, đào tạo công nghệ sinh học sẽ chuyển mạnh từ đáp ứng vị trí việc làm sang tạo năng lực làm chủ công nghệ và thích ứng liên tục”.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quang Huy - Phó Trưởng Khoa Khoa học Sự sống, Trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội cho rằng, nhân lực công nghệ sinh học trong giai đoạn tới phải vừa am hiểu chuyên môn, vừa thành thạo công nghệ số, đủ năng lực kết nối nghiên cứu với sản xuất và thị trường trong nền kinh tế sinh học toàn cầu.

Nhiều cơ sở đào tạo ngành công nghệ sinh học trong nước đã nỗ lực chủ động giải quyết những điểm chưa phù hợp trong chương trình đào tạo nhằm bắt kịp với thị trường và nền công nghiệp sinh học. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hiếu, Hiệu trưởng Trường đại học Bách khoa Đà Nẵng khẳng định, nhân lực công nghệ sinh học sẽ bắt buộc phải có năng lực liên ngành hơn, vừa hiểu sinh học, vừa làm việc được với dữ liệu, các quy trình chuẩn hóa, môi trường số hóa và yêu cầu tuân thủ ngày càng chặt chẽ của thị trường.

Động lực và thách thức

Trong bối cảnh cần nhiều sự đổi mới từ công tác đào tạo, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước. Những chính sách mới, đặc biệt sau khi ngành công nghệ sinh học được xác định là một trong 11 nhóm công nghệ chiến lược của quốc gia, đã thúc đẩy nguồn nhân lực công nghệ sinh học chất lượng cao bước vào giai đoạn đột phá.

Theo các chuyên gia, việc ban hành và triển khai đồng bộ, hiệu quả các văn bản quan trọng như: Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước; Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 sẽ tạo ra một nền tảng chính sách toàn diện, mang tính chiến lược cho công nghệ sinh học nói chung và đào tạo nguồn nhân lực nói riêng.

Đáng chú ý là các hành lang pháp lý mới tạo thêm nguồn lực, và làm rõ hơn con đường đi từ nghiên cứu đến ứng dụng khi luật đã mở hơn cho cơ chế chuyển giao công nghệ, góp vốn bằng công nghệ, thử nghiệm có kiểm soát và quản trị dữ liệu.

Thời gian qua, các khó khăn, vướng mắc về đào tạo nguồn nhân lực công nghệ sinh học đã bộc lộ khoảng cách đáng kể giữa giảng đường với thị trường, nhất là khi các công nghệ có xu hướng kết hợp nhau.

Tuy nhiên, nhìn từ góc độ phát triển, các thách thức hiện hữu cũng đóng vai trò như những “áp lực” tích cực, phát đi tín hiệu rõ ràng về nhu cầu tái cấu trúc cách đào tạo nhân lực công nghệ sinh học. Do đó, yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải khơi thông các cơ chế, chính sách để nhà trường phát huy tính tự chủ trong đổi mới tư duy, chuẩn hóa chất lượng và gắn kết chặt chẽ với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quang Huy, điểm quan trọng của hệ thống pháp lý hiện nay là đã nhấn mạnh việc phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho R&D và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Tuy nhiên, chính sách chỉ thật sự phát huy hiệu quả khi các cơ sở đào tạo chủ động đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng và gắn kết chặt chẽ với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.

Đề án đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ cao giai đoạn 2025-2035 và định hướng tới năm 2045 đã đặt mục tiêu đến năm 2030 tăng nhanh quy mô đào tạo trình độ cao khối ngành STEM, trong đó công nghệ sinh học là một trong ba ngành được nhấn mạnh.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hiếu cho rằng, để xây dựng nhân lực ngành công nghệ sinh học bảo đảm về chất lượng và số lượng, Nhà nước cần cụ thể hóa các định hướng thành các công cụ thực thi đủ mạnh. Từ đặt hàng đào tạo theo lĩnh vực ưu tiên, học bổng có địa chỉ, phòng thí nghiệm dùng chung theo vùng, đến cơ chế tài chính khuyến khích nhà trường-doanh nghiệp cùng đầu tư vào hạ tầng huấn luyện. Muốn tăng cả số lượng lẫn chất lượng, Nhà nước không thể chỉ cấp kinh phí theo đầu vào, mà phải mua được năng lực đầu ra.

Có thể bạn quan tâm