Ðền Mây

Du khách có thể theo ca-nô, ngắm ngút ngàn bờ bãi tươi xanh và xóm làng trù phú hai bên sông Hồng cùng với những địa danh nổi tiếng Bát Tràng - Mễ Sở - Hàm Tử - Tây Kết - cầu Yên Lệnh lên Phố Hiến hoặc cũng có thể theo đường 39b hay đường quốc lộ 1 đến Hà Nam rẽ qua cầu Yên Lệnh; từ Thái Bình qua cầu Triều Dương sang thăm phố cổ rợp bóng nhãn lồng và thư thái lên thăm Ðền Mây (thuộc phường Lam Sơn, thị xã Hưng Yên) lễ các bậc tiền nhân.

Ðền Mây nằm trên bến đò Mây xưa thuộc xã Ðằng Châu, thờ tướng quân Phạm Bạch Hổ (tức Phạm Phòng Ất).

Theo thần tích xã Ðằng Châu, thân mẫu tướng quân một hôm đi chợ về, qua làng Ðằng Châu, gặp mưa to gió lớn, phải trú vào ngôi miếu, thấy ánh hào quang rực sáng, liền đó vị Bạch Hổ hiện lên. Bà kinh hãi ngất đi, tỉnh lại trời đã tạnh. Sau bà về có mang, sinh ông ngày 10 tháng Giêng năm Canh Ngọ (922), đặt tên là Phạm Bạch Hổ. Tráng niên, Bạch Hồ theo Ngô Quyền có tài thao lược, trừng trị Kiều Công Tiễn và đánh quân xâm lược Nam Hán. Ðất nước thanh bình, ông xin Ngô Quyền về đất cũ Ðằng Châu khai hoang lập ấp. Cả một vùng châu thổ màu mỡ ven sông được thuần hóa, xóm làng trù phú, yên vui, dân đinh vừa sản xuất vừa giữ làng. Năm 965, 12 sứ quân nổi lên chiếm giữ các vùng. Phạm Bạch Hổ  (Phạm Phòng Ất) chiếm giữ Châu Ðằng trong ba năm (965 - 967). Ðinh Bộ Lĩnh thu phục 12 sứ quân, chấm dứt tình trạng cát cứ.

Cảm phục tài đức của Ðinh Bộ Lĩnh, Phạm Phòng Ất đem quân theo về, được vua Ðinh phong chức Thân vệ tướng quân, luôn được vua trọng dụng. Vào ngày Rằm tháng 11, có một đám mây vàng sà xuống dinh Bạch Hổ. Ông theo mây vàng mà bay đi. Dân Ðằng Châu nhớ ơn công đức, tôn ông là Vua Mây và xây miếu thờ ông gọi là Ðền Mây. Ở làng Ngọc Ðồng, huyện Kim Ðộng xây lăng thờ ông, vì thế trong dân gian có câu: "Miếu làng Ðằng, lăng làng Ðồng".

Ðền Mây cũng như chùa Chuông ở phố Hiến là một trong những di tích và danh thắng nổi tiếng còn lưu giữ được phong cách kiến trúc thuần Việt. Ðền được xây theo kiểu chữ "đinh", gồm tiền tế, trung từ, hậu cung đồ sộ. Các pho tượng và đầu đao, bia đá được chạm khắc theo phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê và thời Nguyễn.

Hậu cung có tượng tướng quân Phạm Phòng Ất, thân mẫu và phu nhân tướng quân, được tạc rất sống động. Ðặc biệt, gian trung từ có tượng bốn vị văn võ đã cùng Phạm Phòng Ất khai phá, xây dựng cơ nghiệp, kích thước bằng người thật, thể hiện sự phát triển đến đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc thế kỷ XVIII qua bàn tay vàng của nghệ nhân dân gian. Nhà tiền tế còn bức chạm khảm trai lưu bút tích của Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh, làm án sát xứ Hưng Yên, viết năm Mậu Tuất (1898) (dịch nghĩa):

Ngoảnh đầu nhìn lại, nghìn năm đất nước đã thay đổi nhiều.
Sự ngưỡng vọng tế lễ còn ở bảy mươi đền miếu.

Ngoài ra, đền còn lưu giữ các bức đại tự, khảm trai, kiệu bát cống, bia đá và 23 bản sắc phong của các vua triều Lê - Nguyễn. Trong sáu tấm bia đá, giá trị nhất là bia khắc bài "Ðặng Châu từ phụng ký" của Tuần phủ Hưng Yên Phạm Văn Toán làm năm thứ 11 (1899) triều vua Thành Thái. Sinh trưởng ở Yên Lãng (nay là phường Láng Trung, quận Ðống Ða, Hà Nội), Phạm Văn Toán đã từng cùng Thống chế Hoàng Kế Viêm đánh Pháp ở trận Cầu Giấy, giết tướng giặc F.Garnie (1873), được triều đình trọng dụng, phong chức Trung phụng đại phu Tham tri Bộ binh, Phó đô ngự sử Viện Ðô sát. Nhân dịp Ðền Mây được trùng tu, ông đã dâng bài văn bia ca ngợi công đức của Phạm Phòng Ất.

Văn bia cho biết: Ðền được xây dựng vào thời Ðinh, tu sửa vào thời Lê. Ðến Thiệu Trị năm thứ 4 (1884) nhân dân dựa theo quy mô cũ mà sửa lại... Ðến năm 1898 dân đồng tâm hiệp lực tu bổ lại ngôi đền, mùa xuân năm sau hoàn thành. Ngôi đền linh thiêng nổi tiếng đất Sơn Nam, chiến tích xa rồi nhưng sự linh ứng và tiếng thơm vẫn lưu truyền mãi.

Năm 1992, Ðền Mây được xếp hạng Di tích Lịch sử - văn hóa. Sau đó, địa phương rước ảnh Tuần phủ Phạm Văn Toán về thờ ở Ðền Mây. Vài năm gần đây, đền được đại trùng tu khang trang hơn. Di bút của Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh ca ngợi Ðền Mây được hoàn thành bản dịch tôn thêm giá trị lịch sử - văn hóa của ngôi đền.

Có thể bạn quan tâm