Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, quyết sách nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người dân nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng trong tiếp cận pháp luật.
Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” đã nhấn mạnh yêu cầu: Nâng cao vai trò, tính chuyên nghiệp và chất lượng trợ giúp pháp lý, nhất là trong hoạt động tố tụng tư pháp; hiện đại hóa, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống trợ giúp pháp lý; mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý phù hợp với điều kiện của đất nước…
Đặc biệt, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đặt ra yêu cầu: “Thúc đẩy phát triển mạnh mẽ hệ thống dịch vụ pháp lý, hỗ trợ pháp lý, trợ giúp pháp lý, đăng ký biện pháp bảo đảm để người dân và doanh nghiệp dễ tiếp cận pháp luật, quản trị rủi ro pháp lý”; “ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số đồng bộ trong phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, đăng ký biện pháp bảo đảm”; “ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng đặc thù, yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số”.
Từ khi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 và đặc biệt là Luật năm 2017 được ban hành, hệ thống trợ giúp pháp lý Nhà nước đã có bước phát triển mạnh mẽ cả về tổ chức, nhân sự và chất lượng dịch vụ. Các Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước và các Chi nhánh đã dần khẳng định vai trò là “người bạn pháp lý tin cậy” của người dân, đặc biệt là người nghèo, người yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa.
Còn không ít rào cản, thách thức
Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 14% dân số cả nước, sống chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa - những nơi mà điều kiện kinh tế-xã hội và cơ hội tiếp cận dịch vụ công hạn chế hơn.
Thời gian qua, việc triển khai các mô hình “trợ giúp pháp lý lưu động”, ứng dụng công nghệ thông tin để đưa pháp luật đến bản làng… đã cho thấy cách tiếp cận linh hoạt, hiệu quả. Đặc biệt, sự tham gia của già làng, trưởng bản, người uy tín với tư cách cộng tác viên trợ giúp pháp lý đã góp phần thu hẹp khoảng cách ngôn ngữ, văn hóa, giúp pháp luật đi vào đời sống một cách thuyết phục, giản dị và hiệu quả hơn, đưa họ thực sự trở thành “cầu nối” quan trọng trong chính sách trợ giúp pháp lý với đồng bào dân tộc thiểu số.
Tuy nhiên, nhìn thẳng vào thực tiễn cho thấy, trợ giúp pháp lý đối với đồng bào dân tộc thiểu số vẫn chưa thực sự trở thành “điểm tựa” vững chắc như kỳ vọng. Ở nhiều vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, người dân còn hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật, chưa hiểu rõ quyền được trợ giúp pháp lý của mình. Bên cạnh đó, rào cản về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, điều kiện đi lại khó khăn cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Một thách thức khác là chất lượng trợ giúp pháp lý ở một số nơi chưa đồng đều. Số lượng vụ việc ngày càng tăng, tính chất ngày càng phức tạp, trong khi đội ngũ trợ giúp viên pháp lý ở vùng khó khăn còn mỏng. Một bộ phận trợ giúp viên chưa am hiểu sâu sắc phong tục, tập quán, tâm lý của đồng bào dân tộc thiểu số, dẫn đến việc tư vấn, giải thích pháp luật chưa thật sự thuyết phục, dễ hiểu, chưa tạo được sự tin cậy và đồng thuận từ người được trợ giúp.
Chia sẻ về những khó khăn trong quá trình hành nghề, bà Chu Bích Thu, Trưởng Phòng nghiệp vụ, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lạng Sơn cho hay: Tỉnh Lạng Sơn có tỷ lệ người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn cao, trình độ dân trí của người dân còn thấp, sống xa trung tâm nên ít có điều kiện tiếp cận, tìm hiểu pháp luật, tiếp cận với các thông tin về trợ giúp pháp lý. Do vậy, nhiều người thuộc diện trợ giúp pháp lý chưa quan tâm hoặc chưa biết về trợ giúp pháp lý cũng như quyền được trợ giúp pháp lý miễn phí của mình để yêu cầu trợ giúp pháp lý khi có vướng mắc pháp luật. Nhiều người dân còn có tâm lý e ngại, lo sợ không yêu cầu trợ giúp pháp lý vì cho rằng yêu cầu trợ giúp pháp lý sẽ phải trả tiền; một số trường hợp có tâm lý truyền thống giải quyết các công việc theo thói quen và phong tục, tập quán địa phương. Đây là một rào cản lớn đối với người dân khi có lợi ích bị xâm hại nhưng không tiếp cận với trợ giúp pháp lý.
Dù đã đạt được những hiệu quả nhất định, tuy nhiên phải nhìn nhận một thực tế đó là hoạt động truyền thông tại địa bàn các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh chưa thường xuyên, đồng bộ. Vì vậy, ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả của hoạt động truyền thông về trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh nói chung và tại các xã vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn nói riêng. Trong khi đó, kinh phí hoạt động, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước còn thiếu thốn và hạn chế, chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ.
Đa dạng hóa, đổi mới phương thức truyền thông phù hợp với địa bàn, trình độ dân trí
Để trợ giúp pháp lý thật sự trở thành điểm tựa cho đồng bào dân tộc thiểu số, các chuyên gia cho rằng, trước hết cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về bảo đảm quyền tiếp cận công lý, quyền bình đẳng trước pháp luật cho mọi người dân. Trợ giúp pháp lý không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành tư pháp mà cần sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, gắn với các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Cùng với đó, nâng cao chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý là yếu tố then chốt. Bên cạnh việc bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, cần chú trọng trang bị kỹ năng làm việc với đồng bào dân tộc thiểu số, kỹ năng lắng nghe, giải thích pháp luật phù hợp với phong tục, tập quán và trình độ nhận thức của người dân. Khuyến khích, tạo điều kiện để luật sư, trợ giúp viên pháp lý là người dân tộc thiểu số hoặc am hiểu sâu sắc văn hóa bản địa tham gia hoạt động trợ giúp pháp lý tại cơ sở.
Đồng thời, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động trợ giúp pháp lý, phù hợp với điều kiện thực tế. Việc xây dựng các kênh tư vấn pháp luật trực tuyến, thiết lập và duy trì đường dây nóng về trợ giúp pháp lý sẽ góp phần mở rộng khả năng tiếp cận của đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là trong bối cảnh khoảng cách địa lý còn là rào cản lớn.
Về lâu dài, trợ giúp pháp lý cần được gắn với mục tiêu nâng cao nhận thức pháp luật, hình thành ý thức thượng tôn pháp luật trong cộng đồng.
Theo bà Chu Bích Thu, Trưởng Phòng nghiệp vụ, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lạng Sơn, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, các cơ quan tiến hành tố tụng, chính quyền địa phương và các cơ quan, tổ chức có liên quan cần làm tốt công tác giải thích quyền được trợ giúp pháp lý. Theo đó, đòi hỏi quá trình giải thích về quyền được trợ giúp pháp lý cho các đối tượng yếu thế nói chung, người dân tộc thiểu số nói riêng, cần có những phương pháp giải thích dễ hiểu, phù hợp với trình độ dân trí của người dân, phù hợp với đặc thù của từng đối tượng.
Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa và đổi mới sáng tạo các phương thức truyền thông về trợ giúp pháp lý phù hợp với từng đặc thù địa bàn, trình độ dân trí của người dân, đặc biệt là phù hợp với nhóm người dân tộc thiểu số (nhóm người chiếm đa số trên địa bàn tỉnh). Nội dung tuyên truyền phải ngắn gọn, dễ hiểu, có thể thực hiện thông qua cán bộ thôn, xã, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, kết hợp sử dụng tiếng dân tộc, hình thức trực quan, sinh động. Khi người dân hiểu rõ quyền của mình và tin tưởng vào trợ giúp pháp lý, họ sẽ chủ động tìm đến khi có vướng mắc pháp luật.
Trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Thị Thanh Xuân, Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 4, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội đề nghị, cần thiết lập cơ chế kết nối dữ liệu giữa hệ thống trợ giúp pháp lý và hệ thống quản lý danh sách các xã, thôn đặc biệt khó khăn. Đây là giải pháp căn cơ, bền vững để bảo đảm việc tra cứu thông tin đối tượng thụ hưởng được nhanh chóng, chính xác và thống nhất trên phạm vi toàn quốc.
Có thể khẳng định, trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ là chính sách nhân văn mà còn là giải pháp quan trọng bảo đảm công bằng xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Khi hoạt động trợ giúp pháp lý được tổ chức hiệu quả, chuyên nghiệp, gần gũi và thực chất, pháp luật sẽ thực sự trở thành điểm tựa tin cậy cho đồng bào dân tộc thiểu số, để không ai bị bỏ lại phía sau.