Một loại hình diễn xướng đang có nguy cơ mai một
Chị Hoàng Thị Nhuận, dân tộc Tày, thị xã Cao Bằng cho biết: "Thuở nhỏ, tôi thường theo bà ngoại đi xem các ông bà then trình diễn. Cứ mỗi lần, gia đình nào có đám hát then, cả bản đến xem vui như ngày hội. Ðây là cơ hội để bà con dân bản giao lưu tình cảm. Vài chục năm trở lại đây, then ngày càng xa rời cuộc sống thường nhật, vì thế là tình cảm gắn kết giữa bà con chòm xóm không còn đậm đà như xưa".
Trong nửa thế kỷ qua, hát then, đàn tính cũng trải qua những bước thăng trầm cùng lịch sử. Trong một thời kỳ khá dài, "đặc sản" văn hóa tinh thần này không được nhìn nhận, đánh giá đúng giá trị. Nhắc tới then, nhiều người thường có suy nghĩ phiến diện, cho rằng, then là một sinh hoạt mê tín dị đoan. Ðã có nhiều đợt vận động cải tạo mo, then, thu sách ghi chép về các bài mo, đồ hành nghề của người làm mo, then và tổ chức giáo dục. Từ đó, then ngày càng bị thu hẹp. Hiện nay, những người làm then không còn nhiều hoặc đã cao tuổi. Những làn điệu then cổ ít ai còn nhớ và biết hát. Theo thống kê thì hiện nay, các tỉnh có nhiều đồng bào Tày, Nùng sinh sống như Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, số nghệ nhân then nhiều nhất chưa quá ba chục người, độ tuổi từ 50 trở lên chiếm tỷ lệ rất cao. Hiếm hoi mới có nghệ nhân dưới 30 tuổi. Ngay cả Cao Bằng, một trong những địa bàn có hơn 40% số dân là đồng bào Tày, theo bà Nông Thị Thanh Tâm, Phó Chủ tịch UBND tỉnh: "Số lượng nghệ nhân hát then cổ của cả tỉnh còn chưa đầy 20 người. Hầu hết tuổi cao sức yếu. Số nghệ nhân trẻ chỉ hát các bài then mới, không biết diễn xướng then. Một phần, do then cổ không được lưu giữ đã mất đi nhiều. Hơn nữa, học diễn xướng then rất khó và cần có thời gian quan tâm".
Chính vì vậy mà sinh hoạt then trong dân gian bị coi nhẹ, việc truyền dạy ít được chú ý. Có chăng chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình vốn có truyền thống say mê nghệ thuật hát then.
Mặt khác, do xã hội ngày càng phát triển, sự tác động ồ ạt của văn hóa ngoại lai cũng làm lớp trẻ xa rời văn hóa nghệ thuật của dân tộc mình. Nghệ nhân Hoàng Nừng, 68 tuổi - một trong những nghệ nhân hát then cổ hiếm hoi ở Yên Bái tỏ ra sốt ruột: "Bụng người già buồn lắm, khi thấy bọn trẻ con phát âm tiếng mẹ đẻ còn chưa chuẩn, nói gì đến hát then. Thanh niên trong xã tôi chỉ thích nghe nhạc hiện đại thôi. Chúng bảo đàn tính mỗi điệu pưng pưng, nghe thật chán".
Về mặt quản lý, ngành văn hóa chưa có chủ trương, biện pháp nào mang tính chiến lược nhằm bảo tồn, phát huy loại hình nghệ thuật này, chỉ có một số người có tâm huyết tự bỏ tiền túi, quỹ thời gian của mình ra để sưu tầm, nghiên cứu. Nhà nghiên cứu Lê Quang Tăng, 69 tuổi (Cao Bằng) nhiều năm đi hát then và hiểu rõ văn hóa then. Ông là người tích cực dạy con cháu mình biết phải gìn giữ bản sắc dân tộc, dành nhiều thời gian dịch các bài hát then từ tiếng Nôm Tày sang chữ quốc ngữ, để con cháu học dễ dàng hơn. Ông Tăng chia sẻ: "Sách có, đàn có. Tôi sẵn sàng truyền dạy hát then, đàn tính cho lớp trẻ. Chỉ buồn là không mấy thanh niên mặn mà theo học, trong khi đó, chúng tôi ngày một già đi".
Những tín hiệu vui
Nghị quyết T.Ư 5 của Ðảng đã vạch ra hướng bảo tồn vốn quý trong kho tàng văn hóa nghệ thuật truyền thống của các dân tộc. Then được xác định là một di sản văn hóa cần được trân trọng và bảo tồn, phát huy và phát triển phù hợp giai đoạn hiện nay.
Mốc quan trọng đầu tiên trong việc bảo tồn và phát huy nghệ thuật hát then là Liên hoan nghệ thuật hát then - đàn tính toàn quốc lần thứ nhất, do Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phối hợp chủ trì với các tỉnh Ðông Bắc, Tây Bắc và một số tỉnh ở Tây Nguyên tổ chức tại Thái Nguyên năm 2005, quy tụ được hơn 300 nghệ nhân diễn viên. Những giai điệu then của các địa phương góp phần tôn vinh và khẳng định vị trí của hát then và đàn tính trong đời sống tinh thần đồng bào. Các diễn viên quần chúng khi quay trở về địa phương đã trở thành hạt nhân, là nòng cốt trong việc khơi dậy tinh thần đam mê hát then của bà con nơi mình cư trú.
Sau Liên hoan nghệ thuật hát then - đàn tính lần thứ nhất, Bộ Văn hóa - Thông tin lúc đó đã có văn bản hướng dẫn, chỉ đạo ngành văn hóa - thông tin các địa phương sưu tầm và thống kê về di sản hát then - đàn tính, chỉ đạo một số địa phương xây dựng làm điểm về bảo tồn, phát huy nghệ thuật hát then, đàn tính. Hàng chục câu lạc bộ hát then, đàn tính ở các tỉnh ra đời ở các trung tâm thôn, bản và huyện. Việc truyền dạy trong các địa phương được chú ý với những hình thức tổ chức phù hợp như tại các cơ sở văn hóa - nghệ thuật trường lớp truyền dạy trong gia đình dòng họ, các câu lạc bộ.
Nếu như ở liên hoan lần thứ nhất, số lượng diễn viên trẻ tham gia khá khiêm tốn, khiến những người làm tổ chức không khỏi lo ngại thì tại Liên hoan hát then, đàn tính toàn quốc lần thứ hai tổ chức tại Cao Bằng đầu tháng 10 này, đã có những tiến bộ rõ rệt với sự tham gia của nhiều gương mặt trẻ của 20 đoàn nghệ thuật của 14 tỉnh, thành phố với gần 500 diễn viên. Nếu chỉ nhìn vào sự thành công của liên hoan lần này thật hơi sớm để tin tưởng hát then, đàn tính đã trở lại trong đời sống của lớp trẻ hiện nay nhưng hình ảnh ba cháu thiếu nhi đến từ Câu lạc bộ tài năng trẻ tỉnh Thái Nguyên, độ tuổi từ 7 đến 10 biểu diễn hát then, đàn tính một cách thuần thục đã gây xúc động nhiều khán giả. Ðồng chí Vi Hồng Nhân, Phó Tổng Thư ký Hội Văn học - Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam cho biết: "Ðây là một làn gió mới thổi vào nghệ thuật hát then, là tín hiệu đáng mừng của việc lớp trẻ đã không còn thờ ơ với nghệ thuật đặc sắc của dân tộc mình. Thành công của liên hoan hỗ trợ rất nhiều cho công tác khảo sát, nghiên cứu hồ sơ để trình UNESCO công nhận hát then là Di sản thế giới".
Liên hoan lần này quy tụ cả những đoàn nghệ thuật quần chúng ở những tỉnh, thành phố tưởng như chẳng liên quan gì tới hát then như Ðác Lắc, Ðác Nông, TP Hồ Chí Minh (có tới ba đoàn). Ba chị em ruột họ Chu: Nhạn, Hiểu, Ðiền được nhiều người biết đến bởi nhờ hát then, lần đầu tiên họ được trở về mảnh đất quê hương sau gần 30 năm lập nghiệp tại Ðác Lắc. Chị Chu Thị Hiểu cho biết: "Bận rộn với nương rẫy, nhưng mỗi khi rảnh rỗi, ba chị em lại ngồi hát những bài hát then do cha chúng tôi đặt lời. Với chúng tôi đó là niềm vui lớn nhất sau mỗi ngày lao động, là phút giây gia đình tề tựu đông đủ, ấm cúng". Vài năm trước, cả thôn B7, xã Ea Phê, huyện Krông Pác, nơi gia đình ba chị cư trú, chỉ còn mỗi gia đình chị với người cha là nghệ nhân Chu Ðức Kính là còn bảo lưu nghệ thuật hát then. Sau lần tham dự Liên hoan lần thứ nhất, trở về Ðác Lắc ba chị em đã trở thành hạt nhân phát triển phong trào hát then, đàn tính tại bản mình. Chị Hoàng Thị Thìn, người cùng đoàn phấn khởi: "Bây giờ, khắp thôn, bản đều vang lên tiếng đàn tính và điệu hát then. Chúng tôi tự hào bởi văn hóa của dân tộc mình được khôi phục".
Gặp lại nghệ nhân Hoàng Nừng tại liên hoan lần này, nom ông trẻ hẳn ra, ông vui lắm. Ông Nừng cho biết: "Tôi vừa đầu tư ba triệu đồng để sắm đạo cụ cho lớp học. Chỉ cần các cháu say mê học, tôi không tiếc tiền đầu tư". Từ sau Liên hoan lần thứ nhất, hai năm qua, lớp học của ông đã đào tạo hàng chục học sinh, hiện nay ông đang có chín học trò, độ tuổi từ 12 đến 15.
Bảo tồn như thế nào ?
Bảo tồn then như thế nào để không mất đi bản sắc mà vẫn phù hợp xã hội hiện đại đang là vấn để cấp thiết đặt ra. Hiện nay, then đang tồn tại ở hai dạng chính: then cổ (then tâm linh phục vụ việc hành nghề tín ngưỡng) và then mới (then văn nghệ có cải biên, sáng tác dựa trên âm hưởng then).
Lâu nay, chúng ta thường tổ chức các cuộc điền dã thu thập tư liệu từ các nghệ nhân, bảo tồn từ cách lưu giữ tư liệu để nâng cao, phát triển, nhưng lại chưa đánh giá đúng giá trị của các di sản. Tiến sĩ Nguyễn Thị Yên, Viện Nghiên cứu văn hóa cho rằng: "Nghệ nhân then phải được coi là đối tượng quan tâm đặc biệt trong chương trình bảo tồn không gian nghệ thuật hát then, đàn tính. Về bản chất các thầy then là thầy cúng kiêm nghệ sĩ dân gian. Ðây là hai yếu tố tuy hai mà một hòa quyện với nhau tạo thành một hình ảnh chân thực về nghệ nhân then, một nét độc đáo mà không phải dân tộc nào cũng có. Muốn bảo tồn nghệ nhân trước hết phải tôn trọng nguyên tắc nghề nghiệp". Bên cạnh đó, muốn bảo tồn then cổ cần bảo tồn nguyên bản môi trường và không gian của then như nó đang tồn tại và diễn ra trong đời sống. Không thể bảo tồn nếu dẹp bỏ nghề của các ông bà then bởi họ chính là linh hồn của then. Vì vậy, nhiệm vụ của những người làm văn hóa cần phải tôn vinh những người làm then, có sự lựa chọn hạn chế những sắc thái mê tín. Việc tôn vinh gia đình dòng họ có truyền thống hát then cũng rất quan trọng...
Nếu như việc bảo tồn then nghi lễ có phần khó khăn phức tạp vì liên quan tới chính sách với nghệ nhân và tính chất công việc của họ thì việc bảo tồn phát huy diễn xướng then văn nghệ có phần đơn giản hơn bởi các đối tượng tham gia đông đảo, trình diễn ở bất kỳ môi trường diễn xướng nào, truyền dạy với nhiều hình thức, sáng tác và phóng tác lời hát với những nội dung phong phú. Tuy nhiên, việc đổi mới và cách tân không có nghĩa là loại bỏ yếu tố nghi lễ, chính yếu tố nghi lễ mới làm cho con người gắn bó và say mê loại hình nghệ thuật này và chính nghi lễ là lôi cuốn hàng nghìn người cùng cộng hưởng trong niềm cảm xúc khi nghe và hát then.
Cuối cùng, xin được trích ý kiến của Phó Tổng Thư ký Hội Văn học - Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam Vi Hồng Nhân: "Hãy để then cùng chúng ta, cùng đồng bào Tày, Nùng, Thái đồng hành trong hành trình của thế kỷ mới, cùng cả nước và thế giới hòa nhập mà không hòa tan, đó chính là bản sắc, là tâm hồn dân tộc. Tiến trình này mới bắt đầu chuyển động. Ðừng để nó thót thành đuôi chuột mà nở thành đuôi chồn, đuôi sóc nhảy nhót khắp núi rừng Ðông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên và muôn nẻo đường của Tổ quốc Việt Nam".