Kỷ niệm 100 năm Ngày mất danh nhân văn hóa Ðào Tấn (1907 - 2007)

Ðào Tấn - Niềm thao thức lớn

Ðào Tấn - Niềm thao thức lớn

Trong vở tuồng Cổ thành, Ðào Tấn đã cho Trương Phi hát:

Nhất nhạn hoành phi vân tế lộ,
Cô đăng trường chiếu nguyệt biên thành.

(Chiếc nhạn ngang trời mây nghẽn lối,
Ðèn cô rọi mãi nguyệt bên thành)

Câu hát đậm mầu sắc trữ tình đã mang lại cho Trương Phi một diện mạo mới - diện mạo tâm hồn - và mang lại cho tuồng một bước đột phá - từ nghệ thuật khuyến giáo sang nghệ thuật hiện thực tâm lý. Ðó cũng là một trong những câu thơ hào sảng nhất, cô đơn nhất rút ra từ gan ruột một đời người - đời thơ ký thác vào lời nhân vật. Chiếc nhạn bơ vơ, ngọn đèn cô độc. Nhất là "cô đăng trường chiếu..." - ngọn đèn lặng lẽ soi qua hàng thế kỷ, qua bao cuộc bể dâu...

Hằng năm, cứ vào những ngày này, làng Vinh Thạnh (Bình Ðịnh) lại rộn rã tiếng trống chầu đêm hát giỗ tổ. Cuối hạ đầu thu, trời đêm trong vắt, trăng tỏa bóng trên cửa Lý Môn, tiếng trống lay động, hương đêm phảng phất... Biết hồn có về trong bóng nguyệt soi?

Cuộc đời xuất xứ của Ðào Tấn (1845 - 1907) hầu như gói trọn vào nửa sau thế kỷ XIX "súng giặc đất rền", nhập nhoạng cũ - mới, phong kiến - thực dân... Hơn ba mươi năm làm quan, trải năm triều vua, lần lượt giữ những chức vụ quan trọng nhất của triều đình, Ðào Tấn vẫn "tay trắng thanh bần" (Ch.Gossalin). Ngày cụ mất, sĩ phu An Tịnh có đôi câu đối viếng, bày tỏ niềm thương tiếc đối với đóa "hàn mai": Dĩ vi danh tự, vi viên phố - Diệc hữu nhân duyên, hữu tính tình - nhà thơ mộng hoa mai, vị tăng mai ấy, cuối cùng cũng khép một kiếp mai lạnh, nói khác đi là về với hoa mai, có mai làm hồn mộng, trên ngọn núi mai vàng (Huỳnh Mai - Tuy Phước - Bình Ðịnh).

62 tuổi đời, một sự nghiệp đồ sộ để lại, bao gồm tuồng, thơ, từ và cả lý luận sân khấu. Với tuồng, Ðào Tấn được tôn xưng là Hậu tổ và bên cạnh ánh sáng rực rỡ tỏa ra từ tuồng còn có từ và thơ. Ðặc biệt với thể loại từ, mảnh đất lạ "còn ít được biết tới". Ðây cũng là nơi Ðào Tấn gửi gắm nhiều tâm sự nhất. Có nhiều lý do đưa Ðào Tấn đến với thể từ như sở thích, tài năng, môi trường văn hóa... nhưng trước hết vẫn là sự tìm đến một thể loại phù hợp với tâm hồn mình. Từ có nguồn gốc từ Trung Hoa, một thể loại phi chính thống, một thứ "văn chơi", vì vậy "thủ đắc một số điều kiện nhất định cho sự phát triển tự do" (Hồ Sĩ Vịnh), phù hợp với sự chuyển tải những tâm sự cá nhân. Nếu tuồng là khát vọng và nỗi đau của Ðào Tấn trước thời cuộc; thơ là tiếng nói chân chất, đôn hậu, đằm thắm tình nghĩa với đời, với người, thì từ là niềm cô đơn sâu thẳm của họ Ðào, nơi ông lui về đối diện với tự ngã, ở đó những con người, những mối quan hệ xã hội giăng mắc hầu như vắng bóng.

Thật ra ngay trong thời cuộc, giữa mọi người Ðào Tấn đã thấy bơ vơ: Tiên đế ủy vi kim nhật dụng - Cô thần hoàn tác cố sơn mưu (Tiên đế ủy thác dùng buổi này - Cô thần mưu về lại núi non xưa - Vô đề). Có điều nỗi cô đơn ấy quánh lại, đậm đặc hơn trong từ - với không gian như thu lại và thời gian ngưng đọng - có khi chỉ còn là quầng sáng của một ngọn đèn. Ngọn đèn vốn dĩ gắn với những niềm thao thức. Niềm thao thức lại chỉ ở những tâm hồn đa cảm, đa đoan. Hình ảnh ngọn đèn trở đi trở lại trong từ Ðào Tấn như một tín hiệu thẩm mĩ độc đáo. Ngọn đèn hồng trong đêm xuân, ngọn đèn xanh trong đêm lạnh lẽo, ngọn đèn gắn với những đêm nằm nghe gió mưa nối sáng, với những khoảnh khắc giật mình bừng ngộ trong từng giây lát:

Khách chẩm mộng hồi văn nhị cổ,
Lãnh lạc thanh đăng.
Ðiểm trích không giai vũ,
Nhất thốn sầu trường thiên vạn lũ.

(Gối khách tỉnh mơ nghe tiếng trống,
Leo lét đèn xanh.
Một thềm mưa rả rích,
Một tấc lòng sầu vạn mối dài)

(Ðiệp luyến hoa)

Nếu Ðào Tấn đã từng xem vầng trăng là ngọn đèn đơn côi thì hơn một lần ngọn - đèn - trời ấy đã soi rọi tâm hồn tác giả: "Thầm thẹn với vầng trăng". Trong thế giới được ngọn - đèn - tâm soi sáng, ta thấy một cái tôi trữ tình mang nặng tâm sự, buồn nhiều hơn vui. Ta gặp những cảm xúc thiên về âm tính: sầu, thương, oán, bi, ưu, hận... Nỗi hận vì sự bất lực của mình, niềm bi thu vô hạn mà thường trực là một nỗi sầu mênh mang không dứt. Có nỗi sầu thương nước nhớ quê, sầu đêm thanh cảnh vắng và cả nỗi sầu không duyên do của tình cảm lãng mạn mà Xuân Diệu đã tinh tế cảm nhận: "Từ Ðào Tấn báo trước chủ nghĩa lãng mạn". Dĩ nhiên từ Ðào Tấn không phải không có những giai âm nhẹ nhàng, những niềm vui trong trẻo, bình dị, nhưng thế giới từ Ðào Tấn trước hết là cả một cõi sầu.

Niềm cô đơn đổ bóng xuống những bài từ trong sáng, tha thiết. Ở đó lặp đi lặp lại những từ chỉ sự riêng lẻ, đơn độc: nhất, độc, cô, tư... Ta gặp cái tôi trữ tình một mình suốt ngày dài đứng lặng (Ðiệp luyến hoa), một mình bâng khuâng đứng tựa lầu cao trong buổi chiều tà (Canh lậu tử)... Nhất là chén rượu chuốc một mình. Xưa nay không ít thi nhân tìm thấy niềm vui "nguyệt hạ độc chước" như thi tiên Lý Bạch. Vào giây phút hào sảng, Ðào Tấn cũng một mình nâng chén mời trăng mời hoa, nâng niu từng khoảnh khắc cuộc đời ngắn ngủi: "Có rượu, có hoa, không uống đợi bao giờ" (Ngu mĩ nhân).  Nhưng chén rượu ông tự chuốc cho mình thường tràn vị đắng:

Thanh tiêu tự chuốc tam chung tửu,
Lệ châu mãn trích khuynh như đấu.

(Ðêm vắng tự châm ba chén rượu,
Lệ châu ràn rụa rơi bằng đấu)

(Bồ tát man)

Không đơn thuần là nỗi đắng cay vì thiếu vắng người tri kỷ, "có rượu không có bạn" (Lý Bạch), "rượu ngon không có bạn hiền" (Nguyễn Khuyến), mà là ly rượu tỉnh thức, rót vào tất cả những cảm nghiệm nhân sinh. Ta biết có một Ðào Tấn của ban ngày - vị quan hiển đạt, hết lòng với công việc "thanh, thận, cần" - nhưng cũng có một Ðào Tấn về đêm  ngổn ngang tâm sự. Soi vào ngọn đèn khuya, ông thấy hình bóng của một đất nước tiêu điều: Bụi giặc mù trời - Hoa mai đỏ như máu và tự thương thân chỉ biết ngồi già ở sông Hương mà thẹn với vầng trăng (Bồ tát man), ngoái đầu lại nước cũ chỉ thấy mờ mịt, thấy cuộc đời như vầng trăng "tròn ít khuyết nhiều" (Ngu mĩ nhân), thấy mình phụ thời cuộc, chỉ biết "ngồi viết câu thơ đứt ruột" (Ỷ la hương), nửa đời ngớ ngẩn như rùa (Giá cô thiên),... Niềm đau buồn đọng lại thành hình tượng mái đầu bạc mà mầu trắng càng sáng thêm lên dưới ánh đèn: Lãnh lạc thanh đăng - Tinh tinh mấn ánh kim như hứa (Ðiệp luyến hoa)...

Với thể loại từ, Ðào Tấn thể hiện một phương diện tài hoa của một "ngòi bút  long lanh tám mặt" (Dương Thọ Ấn), mượn sự du dương của từ điệu chuyển tải những cung bậc tinh tế của tâm hồn. Trăm năm, chiếc nhạn bơ vơ ngày nào cũng yên nghỉ từ lâu trên núi Huỳnh Mai nhưng vầng trăng vẫn mãi sáng. Trong buổi hoàng hôn của thời đại, Ðào Tấn lặng lẽ thắp lên một ngọn đèn và ngọn đèn lẻ loi ấy mãi mãi còn làm xao lòng hậu thế...

Có thể bạn quan tâm