Ðánh thức miền đất giàu di sản

Rồng đá trước sân chầu tại khu<br>di tích Lam Kinh, Thanh Hóa.
Rồng đá trước sân chầu tại khu<br>di tích Lam Kinh, Thanh Hóa.

Như gần đây, đến khu thắng tích Kim Sơn (xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc), nơi có một hệ thống hang động hiện còn lưu nhiều bút tích chữ Hán của các danh nho, chức sắc Việt Nam khắc trên đá, đoàn khảo sát đã phát hiện thêm một động cạn vào loại đẹp nhất nước ta với tên gọi Tiên Sơn. Men theo con đường nhỏ gập ghềnh lượn dưới chân núi, pha một chút hoang sơ, rồi leo trèo, cuối cùng chúng tôi cũng được đền đáp: thỏa thuê, ngắm kiệt tác mà thiên nhiên đã tạo dựng.

Và nữa, chỉ cách động Tiên Sơn một km, là tới động Ngọc Kiều. Lòng động khá rộng, mái vòm cao, thoáng, trên thành còn có thơ đề, bút tích của Nguyễn Thuật, Nguyễn Xuân Tiêu và Nguyễn Giao. Quanh thành động có nhiều ngách, hang. Thời kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ, đây là nơi ta trú quân và cất giấu lương thảo.

Ngồi thuyền vào động Ngọc Hồ, có cảm giác như mình đang ở Tam Cốc - Bích Ðộng vậy, chỉ khác nước rất trong xanh. Tới giữa động, ngước nhìn trần động cao vút, bất chợt thấy lô nhô những dàn nhũ đá đủ mọi hình thù. Lưu truyền, do kiến tạo đặc biệt và khá hiểm yếu ấy, các vua Trần đã chọn nơi đây dụng binh trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông của dân tộc. Ði sâu vào động nhưng thật sự lại là một lối ra truông rộng lớn mênh mông, soi hình bóng núi. Trên cửa lối ra, thấy bút tích của các danh nho, chức sắc: Chúa Trịnh, Nguyễn Giao, Phan Huy Tùng và cả bút tích của viên công sứ Pháp khắc trên đá.

Một rừng bia

Theo tài liệu "Khảo sát và biên dịch những di sản văn hóa Hán - Nôm hiện còn ở Thanh Hóa" năm 2004 thì: tại 12 huyện, thị xã, thành phố (trong số 27 huyện, thị xã) được khảo sát, đã tìm thấy 152 văn bia, 178 đạo sắc phong (của 26 triều vua), sáu gia phả, thần phả, ba cuốn sách, 15 hoành phi đại tự và 30 câu đối thuộc các niên đại Lý, Trần, Lê sơ, Lê Trung Hưng và Nguyễn. Ban dịch thuật đã tiến hành chép lại, dập, chụp và biên dịch.

Cái đáng quý ở đây là: lần đầu tiên các tư liệu này được phát hiện (như văn bia của Nhật Nam nguyên chủ ở núi Thần Phù (Nga Ðiền, Nga Sơn), bia chùa Ngọc Châu (Cẩm Sơn, Cẩm Thủy), gia phả họ Vũ (Hà Lai, Hà Trung), các đạo sắc phong, v.v.). Ðồng thời Ban đã cho dịch và giới thiệu một số tư liệu Hán - Nôm chưa có ai dịch và công bố (như chùm thơ của Thượng Dương Ðộng Chủ, Bảo Thiên Ðộng Chủ ở Lục Vân, Bạch Á, Chiếu Bạch, của một số nhân vật lịch sử, các nhà khoa bảng như Hoàng Kế Viêm, Nguyễn Thuật, Lê Lượng Bạt, Trương Quang Ðản ở Kim Sơn...).

Quả không ngoa khi các nhà nghiên cứu và sưu tầm văn hóa Hán - Nôm nhận xét: "Thanh Hóa là cả một rừng bia". Nơi đây đúng là vùng đất có số tư liệu Hán - Nôm vô cùng phong phú và rất đa dạng. Chỉ riêng các tác phẩm trên vách đá và hang động cũng đã là một trong những tỉnh có nhiều nhất trên cả nước.

Ðáng tiếc, việc tìm kiếm các di sản này bấy lâu bị lãng quên, không được quan tâm đúng mức, chưa nhận thức được tầm quan trọng của công việc này. Tuy phong phú và là "một rừng bia" như thế nhưng do thời gian, do thiên nhiên, rồi thiên tai địch họa và nhất là do sự nhận thức quá ấu trĩ về văn hóa của một số người nên cung điện, đền đài, chùa chiền bị phá phách. Núi đá, hang động bị nổ mìn khai thác đá hoặc tìm của quý đã khiến cho tất cả các di tích vô giá này bị hủy hoại nhanh chóng, mười phần nay chỉ còn lại một, hai.

Trước thực trạng đó, Hội khoa học Tâm lý Giáo dục Thanh Hóa mà nòng cốt là Ban dịch thuật Hán - Nôm trực thuộc tỉnh Hội đã đề nghị Hội đồng khoa học của Liên hiệp các Hội KH-KT Việt Nam xét duyệt cho thực hiện đề tài "Khảo sát và biên dịch những di sản văn hóa Hán - Nôm hiện còn ở Thanh Hóa".

Các thành viên trong Ban đều khẳng định với một quyết tâm cao, nếu chịu khó đi sâu vào các gia đình, dòng họ, làng xóm thì vẫn có thể phát hiện được những tư liệu Hán - Nôm có giá trị mà họ còn cất giữ.

Ông Võ Hồng Phi - thành viên Ban dịch thuật rất phấn khởi nói: Thanh Hóa có nhiều di sản quý như vậy cũng dễ hiểu, bởi từ thời các vua Hùng dựng nước đến Bà Trưng, Bà Triệu chống thù, rồi Ðinh, Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê, Nguyễn giành quyền độc lập, vệ quốc và mở mang bờ cõi... phần lớn các vua chúa, các triều đại đều phát tích ở đất Thanh. Vị trí Thanh Hóa lại nằm giữa hai đầu đất nước. Bắc thông với Ðông Ðô - Hà Nội, nam giáp Nghệ An, qua kinh đô Huế thông suốt vào Nam. Từ dãy Tam Ðiệp của xứ Thanh Hóa (nay thuộc Ninh Bình) đến chín mươi chín ngọn Hồng Lĩnh của xứ Nghệ, non xanh nước biếc, sơn kỳ thủy tú, địa linh nhân kiệt, vị trí hiểm yếu.

Chẳng thế, từ thế kỷ 13, vua Trần Nhân Tông đã nhận định "Hoan Ái do tồn thập vạn binh". Vì vậy, trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai, khi đất nước ngàn cân treo sợi tóc, thì các vua Trần, Tiết chế Trần Hưng Ðạo, Thượng tướng Trần Quang Khải đã tập kết vào Thanh Hóa, để chỉ ba tháng sau kéo quân hùng, tướng mạnh ra bắc đánh tan giặc Nguyên - Mông. Cứ mỗi lần từ bắc vào nam, từ trung ra bắc, các vua chúa, triều thần, văn nhân tài tử đều lưu lại xứ Thanh. Thời Lý, Trần, các bậc vương tôn thường qua vùng Ðồng Cổ, Tây Ðô. Các vua Lê, chúa Trịnh về Lam Kinh, Vĩnh Hùng để bái yết Sơn Lăng. Các vua chúa nhà Nguyễn về quý hương, vùng đất Gia Miên, Hà Trung để thăm viếng quê cha đất tổ. Với phương tiện thuở xưa, phần lớn là đi theo đường thủy. Xuất phát từ cửa Thúy Ái, nơi kinh đô, rồi dọc sông, biển đến cửa Thần Phù (Nga Sơn, Nga Thiện...), vượt sông Mã, sông Chu vào xứ Thanh hoặc đi vào nam. Thanh Hóa lại là tỉnh lắm hang, nhiều động, với những thắng tích kỳ thú, non nước hữu tình, cung điện, đền đài, miếu  vũ...  tạo  ấn  tượng  cho những tao nhân, mặc khách nhiều cảm tác nên mỗi lần qua lại thường nhàn du lãm thưởng đã để lại bao bút tích.

Có thể nói, từ Thần Phù về đến Thanh Hóa, khắp nơi khắp nẻo, rừng núi, đồng bằng, đi đến bất kỳ nơi nào cũng thấy toàn những bia, minh, tán, kệ, câu đối, thần phả, ngọc phả, sắc phong, mộ chí... Chỉ riêng vua Lê Thánh Tông trong cuộc tuần thú phương nam đã có hàng trăm bút tích.

Bước chân mòn đá núi

"Nhìn những di sản vô giá ấy cứ bị hủy hoại ngày một nhiều ai mà không xót xa, nuối tiếc" là tiếng nói tự đáy lòng của các thành viên trong Ban dịch thuật. Mọi người đều không quản đường xa, đến một số làng bản hẻo lánh thuộc các huyện miền núi Cẩm Thủy, Bá Thước, hoặc leo trèo lên những hang động, núi cao, để tìm tòi, phát hiện những bút tích Hán - Nôm hiện còn. Có bút tích từ khâu tiếp cận đến khâu biên dịch hoàn chỉnh phải đi lại ít nhất bốn, năm lần, có khi chín, mười lần để đối chiếu, chỉnh lý bản chép tay hoặc dập bản khắc trên đá, nhằm hiểu đúng một vài chữ hoặc một vài câu còn nghi ngờ, băn khoăn chưa ổn. Có khi leo lên đỉnh núi rồi lại dò dẫm xuống độ sâu hàng mấy trăm mét, qua hai, ba hang động mới phát hiện và dập được các bút tích như: "Quan đài", "Ngọc thanh", "Lầu thư", "Cầm bích", "Ngọc kiều"...

Có cái tâm cộng với lòng say mê, nhiệt tình, không sợ gian khó, hiểm nguy, Ban dịch thuật đã làm đúng như lời Bác Hồ dạy "Thế thượng vô nan sự", "Quyết chí cũng thành công". Vậy là họ đã góp phần đánh thức một vùng khí thiêng sông núi. Mới chỉ trong vòng một năm nhưng kết quả khảo cứu mà họ công bố là rất lớn, rất đáng trân trọng. Bởi những phát hiện, dịch và phổ biến nhiều thông tin mới về kho di sản văn hóa còn lại ở Thanh Hóa có ý nghĩa đặc biệt, vô giá về lịch sử và văn học. Công việc sẽ còn được tiếp tục, nhất là phát động phong trào bảo quản, phát hiện ở nhiều nơi trong dân. Giữ gìn, trân trọng di sản văn hóa Hán - Nôm của dân tộc là góp phần giữ nền tảng để xây dựng một đời sống văn hóa hiện đại, tiên tiến, đậm đà bản sắc của Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm