Cuộc hội thảo quy tụ 12 tác giả nước ngoài, 38 tác giả trong nước, là những người nổi tiếng nhất - và có sự hiện diện của hai nhà văn đoạt giải Nobel Văn học: Jean-Marie Gustave Le Clézio, nhà văn tiêu biểu của nước Pháp, Nobel năm 2008 và Svetlana Alexievich, nhà văn người Belarus, Nobel năm 2015.
Hàn Quốc đang mùa thu, thời tiết rất đẹp, khô ráo, nắng vàng, lạnh ở mức chỉ cần mặc áo khoác mỏng. Đi trên phố ở Seoul, cảm nhận một cuộc sống làm việc chăm chỉ của người dân, cảm nhận sự phát triển vững vàng về kinh tế và văn hóa, và cảm nhận rõ tình yêu đất nước của mỗi người. Hội thảo tổ chức ở thành phố Pazu yên tĩnh, tràn ngập cây xanh. Những ngôi nhà chỉ 4 đến 5 tầng, đứng trên cao có thể thấy những nhà mái bằng, con đường nhiều xe chạy ban ngày nhưng đến tối vắng xe do ít người qua lại. Đây không phải là thành phố có cửa hiệu, có siêu thị.
Những ngày diễn ra Lễ hội Hòa bình DMZ 2023, hàng trăm người tụ hội về ngôi nhà trung tâm thành phố. Ngôi nhà rộng, nối nhau bằng lối đi lát gỗ, sách từ dưới lên áp sát trần nhà, sắp xếp ngay thẳng bằng hàng chục giá gỗ, bảo quản cẩn thận, không thấy một hạt bụi. Người đọc các nơi kéo về ngày hội. Đông nhất là trẻ em và thanh niên. Nhiều quán cà-phê trong nhà. Người ta uống cà-phê và lấy sách trên giá đọc.
Có một lớp học vẽ của các bé chắc chỉ mới lớp 2, lớp 3. Các bé vẽ ngay dưới giá sách khổng lồ. Thấy hai cô bé ngồi cuối lớp, tôi lại gần và giới thiệu: “Bà là người Việt Nam đây! Hai cô bé nhìn lên, khuôn mặt xinh xắn sáng trưng, chúng reo: “Ồ! Chúng con mới đi Việt Nam về. Chúng con được bố mẹ cho đi nhiều nơi. Nhưng Việt Nam là nơi thích nhất. Đẹp nhất!”.
Tôi tin các bé. Có lẽ các bé được đến Nha Trang hoặc Phú Quốc. Trong một buổi đi thăm khu phi quân sự, tôi ngồi cạnh nhà văn Niyi Osundare người gốc Nigeria, mang quốc tịch Mỹ, hiện sống ở Louisiana. Ông cùng tuổi với tôi, hay nắm tay tôi nói: “Các ông bà già hãy ngồi xuống! Ông hát một bài hát sôi nổi, có điệp khúc nhắc đi nhắc lại Việt Nam... Ô Việt Nam! Ông hát say sưa và bảo: “Đấy! Người dân châu Phi rất yêu quý Việt Nam”. Ông kể mình có ba người con trai rồi nhắc đi nhắc lại: “Việt Nam! Mọi chuyện đều ổn”.
Những khi như vậy, lại tiếc là chưa được đọc tác phẩm của các nhà văn. Đến các hội thảo quốc tế, không ai biết người đối thoại với mình đã viết gì. Vui vẻ như vậy. Và cũng biết, đến các cuộc hội thảo này thì ai cũng có một thành tựu nào đấy, nhưng chả ai biết rõ về ai, cuộc sống, tài năng, công việc hằng ngày... Mà có lẽ như thế lại hay. Mỗi nhà văn đều có ý thức là viết cho người cùng ngôn ngữ, cùng màu da, người ở trong nước đọc. Đến đây để nói lên ý kiến của mình về vấn đề chung là đủ.
Chiến sự đang làm thế giới bất an. Người đầu tiên tôi chú ý là nhà văn đến từ Palestine, cô Adania Shibli-một phụ nữ gầy gò, khuôn mặt thông minh nhưng trông có gì như thảng thốt. Quê hương của cô ở dải Gaza đang xảy ra chiến tranh, chết chóc. Tôi bắt tay cô, không nói được gì với nhau, nhưng ai cũng hiểu là người kia nghĩ gì. Là nhà văn chúng ta làm được gì đây?
Nhà văn Le Clézio hầu như giải đáp vấn đề đó. Ông là cái tên không xa lạ với người yêu văn học ở Việt Nam. Tôi đã đọc tiểu thuyết của ông, quyển “Sa mạc”, và một số truyện ngắn. Một nhà văn có những trang viết tràn đầy các chi tiết, các sự kiện dày đặc, tình huống đời sống trên sa mạc. Ông là một trong những nhà văn Pháp nổi tiếng. Ngồi trên diễn đàn trao đổi với các nhà văn đến đông nghịt hội trường, ông nói tới những bi kịch lớn của lịch sử thế giới, những cuộc chinh phục thuộc địa, sự tàn sát người vô tội ở châu Mỹ da đỏ hoặc châu Phi da đen, buôn bán nô lệ, các cuộc chiến tranh thế giới...
Không điều nào trong số đó bị văn học ngăn chặn. Có lẽ nó không phải là vai trò của nhà văn. Nhà văn không phải là nhà tiên tri hay nhà chính trị. Trên hết họ là nhân chứng. Tác phẩm của họ cộng hưởng, đôi khi khuếch đại những sự kiện xảy ra cùng thời với họ, nhưng chúng không ảnh hưởng đến tiến trình chung.
Le Clézio đã ở tuổi ngoài 80, nhưng trông ông rất trẻ. Ông có vóc người vừa phải, rất thẳng thớm. Thời thanh niên, hẳn đây là người đàn ông đã làm bao nhiêu người phụ nữ phải “đau lòng”. Trong lần đi tham quan khu DMZ, tôi chỉ nói được với ông hai ba câu, nhờ dịch giả Choi Hana dịch. Tôi bảo sách của ông được đọc nhiều ở Việt Nam. Ông bình thản gật đầu. Tôi hỏi ông có biết các nhà văn gốc Việt ở Pháp không? Ông bảo ông biết Linda Lê. Ông hỏi sách của tôi có được dịch ở Pháp không. Không, tôi chỉ được dịch sách ở Mỹ. Ông bảo sắp tới đi Mỹ ông sẽ tìm đọc...
Tôi biết đó là điều không thể, vì ông hiếm thời gian, vì đi tìm một cuốn sách in đã lâu là điều không dễ. Nhưng tôi cảm động vì cách cư xử lịch sự của ông. Nó gây thiện cảm lớn với tôi.
Những ngày ở Hàn Quốc, giữa các cuộc hội thảo và tham quan, Le Clézio rất trầm lặng. Thậm chí có vẻ xa cách. Cũng không thấy nhà văn nước nào ngồi trò chuyện với ông. Nhưng tôi biết “nhìn xa xa để ngưỡng mộ” cũng là cái cách của các nhà văn. Chỉ cần đọc của nhau là đủ.
Người ngồi cùng trên diễn đàn với Le Clézio là bà Svetlana Alexievich, nhà văn người Belarus. Tôi chú ý tìm bà ngay từ đầu, khi bà đi ra cùng hai cô thư ký. Tôi nói với bà, tôi là nhà văn Việt Nam. Tôi đã trải qua chiến tranh.
Đôi mắt bà nhìn rất nhanh qua tôi, như nắm bắt nhanh một ấn tượng. Cái nhìn vừa như muốn quen biết vừa như dò hỏi. Chúng tôi bắt tay nhau nhưng nói chuyện lại khó. Bà nói tiếng Nga. Phải có một phiên dịch viên tiếng Anh biết tiếng Nga. Nhiêu khê quá. Đành cười vậy!
Đi đến những cuộc gặp gỡ này mới thấy người được giải Nobel cực kỳ hạnh phúc. Họ được các quan chức chính quyền sở tại trọng vọng. Họ nói trên diễn đàn khi hàng trăm nhà văn và độc giả ngồi im lặng lắng nghe. Le Clézio trả lời từng câu hỏi và trình bày quan điểm của ông về chiến tranh, tâm sự về tuổi thơ trải qua những ngày Đức chiếm đóng nước Pháp. Ký ức bạo lực theo ông đến bây giờ. Svetlana Alexievich có tác phẩm “Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ” - chiến tranh là khuôn mặt của hàng triệu phụ nữ. Quyển sách sắp xuất bản của bà cũng có hình thức như quyển được trao giải Nobel, thể loại văn xuôi hiện thực.
Tôi lắng nghe hai nhà văn, hiểu thêm nhiều về các vấn đề mà văn chương cần quan tâm. Bởi nhà văn tiếp tục là nhân chứng của các sự kiện.
Cùng với các nhà văn đến từ Mỹ, Ấn Độ, Đài Loan (Trung Quốc), Philippines, Nhật Bản, Tunisia... tôi được tới thăm khu phi quân sự, nơi chia cắt hai miền đất nước Triều Tiên. Vì có các nhà văn giải Nobel, quân đội cho phép khách được vào tận hàng rào dây thép gai. Đi bộ khá dài. Qua một vùng đồng ruộng có những người nông dân đang thu hoạch vừng. Họ ngồi im lặng, mải mê đập những cây vừng vừa cắt ra.
Và tôi ngạc nhiên nghe tiếng kêu xao xác của rất nhiều chim. Không hỏi chính xác, nhưng trong đoàn có người nói đó là loài sếu. Chúng như đang nghỉ ngơi. Chúng đậu đen đặc trên cánh đồng. Ở khu phi quân sự này, hiện nay chim chóc và các loài thú hoang dã sống rất nhiều. Không có xe, không có đông người, thiên nhiên như được hồi sinh.
Chúng tôi leo cao lên đê. Không được chụp ảnh, nhưng có lẽ không ai có thể quên được hình ảnh hàng rào mầu đen dài ngút mắt. Bên kia, trong một ngày mù trời, nhìn không rõ nhưng vẫn thấy dòng sông, thấy cánh đồng. Dòng sông có nơi chỉ rộng hơn 400 mét, giống như sông Bến Hải của ta, có thể lội qua vào mùa nước cạn...
Và đột nhiên, dưới cánh đồng có tiếng kêu to của con chim đầu đàn. Rồi hàng trăm, hàng ngàn con sếu cất cánh bay lên. Rợp khoảng trời trên đầu chúng tôi. Đoàn nhà văn đứng trên mặt đê rào rào vỗ tay chào đàn sếu. Xa xa, có những đàn chim khác cũng xao động, cũng muốn cất cánh bay lên...
Cảm thấy như đó là dấu hiệu của hòa bình.