Nghệ nhân là ai?
Thực ra thì nhiều người dân tộc thiểu số có thể là nghệ nhân. Ông Vũ Ngọc Bình, Giám đốc Sở Văn hoá Thông tin Gia Lai cho biết toàn tỉnh hiện có đến 9000 nghệ nhân. Họ đều có khả năng đan lát dệt thổ cẩm, làm nhạc cụ, tượng mồ, đều có thể hát kể, có thể xoang, chơi chiêng... nhưng để đạt được danh hiệu thì quả đúng là đãi vàng tìm... kim cương. Là bởi muốn được phong là Nghệ nhân dân gian thì nghệ nhân ấy ngoài chuyện hiểu biết tinh thông, có sức thu hút điển hình, còn phải có khả năng truyền dạy. Điều này là rất khó với những nghệ nhân dân tộc thiểu số...
Ở tỉnh Gia Lai hiện nay đã sưu tầm được hàng ngàn cuốn băng cả sử thi lẫn truyện cổ, dân ca, ca dao, tục ngữ..., nhưng kiếm cho ra người dịch là cả một vấn đề.
Người dịch tiếng Bana thì có ông Siu Pết, một nhà giáo về hưu, còn người biên dịch tiếng Jrai thì hoàn toàn không có. Trước đây có một ông tên là Rơ mah Del, học ngôn ngữ ở Đại học Tổng hợp Hà Nội, đã từng làm từ điển Việt – Jrai, nhưng khi đem băng thu tiếng Jrai về nghe thì ông... chịu, là bởi các băng này đều là ngôn ngữ cổ, và thực ra thì khả năng tiếng Việt của họ cũng có hạn, mà các nghệ nhân kể lại vô cùng ngẫu hứng.
Dự án “Điều tra, sưu tầm, biên dịch, bảo quản và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên” được thực hiện từ năm 2001 đến năm 2007. Trong hai năm 2004-2005 đã xuất bản được 16 tác phẩm sử thi với hàng chục ngàn trang. Có cuốn hơn ngàn trang như "Cướp chiêng cổ bon Tiăng", sử thi Mơ Nông dày 1159 trang, "Udai- Ujac" sử thi Ra Glai, 1190 trang, "Thuốc cá ở hồ Bầu trời- Mặt trăng", sử thi Mơ Nông, 2403 trang...
Riêng ở Gia Lai, với nỗ lực của ngành văn hoá và cá nhân một số hội viên hội văn nghệ dân gian, đã liên tục xuất bản hàng chục các sử thi và sách về văn hoá dân gian như Hơ amon Bia Brâu, Hơ amon Diong Dư,...
Các sử thi này đều phải gắn với các nghệ nhân hát kể. Đây là những người có khả năng đặc biệt về trí nhớ, về trình độ diễn xướng, về thanh nhạc, về hình thể và cả khả năng... ngẫu hứng... Có thế họ mới vừa kể vừa diễn vào vai tất cả các nhân vật trong sử thi hết đêm này qua đêm khác, hết ngày này sang tháng nọ. Nghệ nhân tiêu biểu nhất của dòng này là ông Điểu Kâu, người Mơ Nông ở Đăk Lăk.
Ông Đinh Viêu mới nhận danh hiệu nghệ nhân dân gian của tỉnh Gia Lai lại là một dòng khác. Ông biết sử dụng và sử dụng thành thạo, một cách điêu luyện và tài hoa, tất cả các loại nhạc cụ truyền thống của Tây Nguyên. Không chỉ thế, ông còn chế tác được các loại nhạc cụ này một cách tinh xảo và chính xác, từ Đinh Jơng đến Klong Put, từ Kơ ní đến Tơ rưng, goong....
Chưa hết, ông là nghệ nhân số một về làm nhà rông truyền thống, những cái nhà rông không đụng đến một thứ gì của đời sống hiện đại như dinh, sắt, thép, xi măng, gạch, đá... mà lại cao to lừng lững nặng hàng trăm tấn. Thế mà đâu vào đấy. Đẹp, bền, chắc, trường tồn trong thời gian vật chất và tâm thức của con người... nhiều kiến trúc sư trẻ hiện đại phải bái phục.
Ông cũng là người số một về đẽo tượng nhà mồ hiện nay. Chỉ một cái rìu và con rựa, từ một cây gỗ nguyên, ông vạc đi những nét thừa, thế là toàn bộ cuộc đời hiện lên từ đó với đầy đủ các cung bậc thân phận, sống động như chính cuộc sống đang sinh sôi nảy nở trước mặt với đầy đủ hỉ, nộ, ái, ố... Ngoài ra ông cũng rất giỏi đan gùi, phối màu hoa văn cho thổ cẩm, cho các nóc nhà rông, nhà mồ...
Chúng tôi cũng đã từng giới thiệu trên báo ông Nay Phai, người lên dây chiêng giỏi nhất ở khu vực hiện nay. Bản thân những cái chiêng khi được người Kinh hoặc người Lào đúc xong thì... chưa phải là chiêng. Phải qua tay những nghệ nhân như Nay Phai này thì chiêng mới trở thành chiêng Tây Nguyên, và nó mới bắt đầu có đời sống của nó... Những người lên dây chiêng phải có những khả năng bẩm sinh tuyệt vời về âm thanh, về vật lý, cơ học..
Các nghệ nhân hiện sống như thế nào?
Ai cũng biết là họ ngày càng yếu đi, già đi. Chị Siu Khang ở Plei Bông, người dệt thổ cẩm nổi tiếng một thời giờ đã già và bỏ nghề. Thực ra thì thi thoảng chị vẫn dệt nhưng chỉ để cho mình. Ông Đinh Viêu nay cũng đã bước sang tuổi 71, nói còn rất hăng, nhưng cũng ngậm ngùi mà rằng: Yếu sức rồi, cái tay cứng rồi, hơn nữa, hàng mình làm ra bán cho ai?...
Ở Gia Lai nói riêng, Tây Nguyên nói chung, đang có các dự án khuyến công, mở lớp dạy cho đồng bào dệt vải, làm nhạc cụ, chế tác các vật dụng truyền thống. Các nghệ nhân dân gian được mời về truyền nghề. Nhưng rồi lại cũng vẫn đau đáu: Đầu ra thế nào?
Đăk Lăk rất mừng khi có được Điểu Kâu. Ông vừa là nghệ nhân hát kể, vừa là người sưu tầm và dịch luôn sang tiếng Việt. Vì thế, nếu để ý thì số lượng sử thi Mơ Nông được công bố so với các dân tộc khác, chiếm số lượng lớn.
Ông Đinh Gang ở làng Hơrn, xã Yơ Ma, huyện Kông Chro, Gia Lai, người đã kể hai hơ amon Diông Dư và Bia Brâu và "trong bụng vẫn còn chục cái nữa" thì giờ ngày ngày vẫn phải vào rừng lấy mây về bán để sống dù bệnh tật vẫn triền miên mà không có tiền chữa. Ông đã gầy giờ càng gầy thêm, không hiểu có được ba chục kí lô không, duy đôi mắt vẫn sáng quắc như thế.
Ông Nay Phai, tay lên dây chiêng cự phách ấy đã từng thất nghiệp. Ấy là cái thời gọi là "chảy máu cồng chiêng", rồi thời người dân theo tin lành Đề Ga không chơi chiêng uống rượu...
Gần đây khi đồng bào đã trở lại quý cồng chiêng (ông giám đốc Sở Văn hoá - Thông tin Gia Lai cho tôi biết, chính thức hiện nay tỉnh Gia Lai còn 5.126 bộ chiêng với 78.942 chiếc các loại, có 668 đội cồng chiêng) thì ông Nay Phai bắt đầu có việc, liên tục được mời đi chỉnh âm thanh chiêng cồng. Ông cũng đang truyền nghề cho con và cháu, nhưng đầy tự phát chứ không theo một bài bản định hướng nào.
Ông hoạ sĩ Xu Man, cũng là một nghệ nhân làm tượng mồ và làm nhà rông giỏi. Hồi người ta làm cái nhà rông văn hoá hơn trăm triệu cách đây hơn chục năm ở xã Ayun, huyện Mang Yang thì chính ông là tổng chỉ huy. Bây giờ ông đã nằm liệt một chỗ, chắc cũng sắp đến ngày đi với Giàng.
Thử tìm giải pháp
Theo chúng tôi điều quan trọng nhất hiện nay là tìm ra môi trường, không gian, điều kiện cho các loại hình văn hoá dân gian tồn tại. Những cái gì có thể bán được (thuộc về vật chất) thì tìm đầu ra cho nó, trong đó chú trọng đến yếu tố du lịch. Chính du lịch văn hoá, du lịch về cội nguồn, cái trào lưu đang thịnh hiện nay sẽ giải quyết đầu ra cho các loại hình này.
Tỉnh Lào Cai đã làm khá tốt việc phối hợp văn hoá với du lịch để vừa bảo tồn vừa phát huy văn hoá truyền thống. Rồi Hội An cũng vậy... Những cái phi vật chất thì tạo môi trường cảnh quan cho nó tồn tại. Chúng ta nói rằng chiêng quý, thổ cẩm quý, hơ amon quý... nhưng rõ ràng là trong điều kiện sống văn minh hiện nay nó khó có cơ tồn tại nếu không có sự tác động từ phía nhà nước trong việc tìm ra cho nó điều kiện để phát triển.
Việc UNESCO công nhận không gian văn hoá cồng chiêng Tây nguyên là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hoá phi vật thể nhân loại là một cách, một điều kiện tốt để cồng chiêng có đất để tồn tại. Tất nhiên, bất cứ một việc gì đụng đến vấn đề nhạy cảm này đều phải đánh đổi. Vấn đề là chúng ta phải nhìn thấy sự phát triển lâu dài của nó. Lấy cái được lớn mà bù cho cái mất nhỏ.
Các nghệ nhân dân gian Tây Nguyên, mà nếu gọi như một số nước thì là "báu vật nhân văn sống" vẫn đang còn nhiều điều cần được quan tâm, hiểu biết một cách đúng mực hơn, để họ phát huy hết vai trò và khả năng thiên phú của mình trong đời sống hôm nay. Ấy chính là sự đãi vàng tìm kim cương vậy...