Thời gian càng lùi xa càng khẳng định: Hiệp định Pa-ri là một thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Hiệp định Pa-ri là thắng lợi tổng hợp cuộc đấu tranh của ta trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Trực tiếp là tại Hội nghị Pa-ri - một "cuộc đàm phán lịch sử", một "cuộc hòa đàm thế kỷ", tuy cách nói có khác nhau nhưng nội dung chỉ là một.
Hội nghị Pa-ri về Việt Nam là cuộc đàm phán dài nhất để chấm dứt một cuộc chiến tranh dài nhất trong thế kỷ 20. Ðó là cuộc đối thoại giữa hai lực lượng đối đầu trên chiến trường, một bên là lực lượng xâm lược có thế mạnh vượt trội về quân sự và kinh tế, nhưng lại có thế yếu về chính trị, tinh thần; một bên là lực lượng bảo vệ Tổ quốc, tuy còn điểm yếu tương đối về quân sự và kinh tế nhưng lại có thế mạnh tuyệt đối về tinh thần, chính nghĩa. Ðó còn là cuộc đối thoại giữa hai nền ngoại giao, một bên là nền ngoại giao nhà nghề của một siêu cường; một bên là nền ngoại giao của một nhà nước cách mạng còn non trẻ. Ở Hội nghị Pa-ri đã diễn ra một cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai ý chí, hai trí tuệ, hai loại pháp lý và đạo lý, hai thứ mưu lược khác nhau.
Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến Hội nghị Pa-ri là thất bại của Mỹ trên chiến trường, cũng là thắng lợi của ta trong việc liên tiếp đánh bại hai chiến lược chiến tranh của địch: "chiến tranh đặc biệt" và "chiến tranh cục bộ" được Mỹ hóa cao độ với sự có mặt tại chiến trường hơn 550 nghìn quân Mỹ và đồng minh. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã giáng một đòn mạnh vào cuộc chiến tranh này, không chỉ làm chuyển biến thế trận, đảo lộn chiến lược mà còn làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ. Mỹ hiểu rằng không thể thắng ta bằng chiến tranh. Nếu muốn rút ra khỏi chiến tranh thì không có cách nào khác là phải thông qua thương lượng. Sức ép càng thêm nặng khi phong trào hòa bình của nhân dân Mỹ và sự chia rẽ trong chính giới Mỹ ngày một gia tăng.
Vì vậy chính quyền Mỹ đã phải chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Pa-ri.
Còn ta, đàm phán là để mở ra một mặt trận mới về ngoại giao, một cục diện vừa đánh vừa đàm. Ta hiểu rõ, trên bàn đàm phán ta không thể giành lấy cái mà trên chiến trường ta không giành được. Thực lực trên chiến trường là quyết định nhất. Tài trí ngoại giao không thể thay thế cho thực lực. Nhưng ta có thể sử dụng diễn đàn đàm phán để tiến công cô lập địch, vạch trần tính chất phi nghĩa, âm mưu và hành động kéo dài chiến tranh của Mỹ, đòi Mỹ phải xuống thang; đề cao chính nghĩa của ta, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của dư luận, phục vụ cho đấu tranh quân sự, chính trị trên chiến trường giành thắng lợi.
Ðàm phán Pa-ri bao gồm hai giai đoạn.
Giai đoạn 1 là đàm phán hai bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ, kéo dài trong sáu tháng, từ ngày 13-5 đến hết tháng 10-1968.
Kết quả: ta đã buộc Mỹ phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện việc ném bom miền Bắc và các hành động chiến tranh khác (ngày 31-10-1968), chấp nhận nói chuyện với Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hội nghị bốn bên.
Giai đoạn 2 là đàm phán bốn bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng, sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn, kéo dài bốn năm, từ tháng 1-1969 đến tháng 1-1973.
Ðây là giai đoạn đàm phán gay go và quyết liệt nhất.
Cả ta và đối phương đều đến bàn đàm phán với mục đích, lập trường và đòi hỏi hoàn toàn đối lập nhau.
Ta khẳng định Mỹ là kẻ xâm lược, đòi Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam mà không đặt điều kiện nào, xóa bỏ chính quyền bù nhìn tay sai, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam và các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam. Mỹ thì ngược lại, cho rằng miền Bắc xâm lược miền Nam, đòi hai bên cùng rút quân, duy trì chính quyền Sài Gòn, khôi phục lại khu phi quân sự và ngừng bắn, thực chất là tiếp tục âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam.
Chính vì sự đối lập như nước với lửa ấy mà đàm phán diễn ra quyết liệt và căng thẳng suốt từ đầu đến cuối. Ðối tượng đàm phán của ta trước sau vẫn là chính quyền Mỹ. Nhưng ở giai đoạn 1, đó là chính quyền Giôn-xơn. Ở giai đoạn 2, đó là chính quyền Ních-xơn. Thay cho chính sách Mỹ hóa chiến tranh đã phá sản, chính quyền Ních-xơn đề ra chính sách Việt Nam hóa chiến tranh, chủ trương tìm một con đường khác để rút dần quân Mỹ ra khỏi chiến tranh mà vẫn duy trì được chính quyền và quân đội Sài Gòn trong một miền Nam bị chia cắt.
Thực hiện chính sách ấy, tại bàn đàm phán, Mỹ đẩy Hội nghị Pa-ri vào thế giẫm chân tại chỗ và bế tắc. Trên chiến trường, Mỹ tiến hành bình định quyết liệt, đồng thời mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia và Lào. Về ngoại giao, chính quyền Ních-xơn tìm cách lợi dụng mâu thuẫn Xô-Trung trong quan hệ với Việt Nam, tìm kiếm một giải pháp thương lượng theo điều kiện có lợi cho Mỹ.
Những năm 1969-1971 là những năm giằng co quyết liệt giữa ta và địch trên chiến trường cũng như tại bàn đàm phán. Chủ trương của ta là kiên quyết giữ vững và thông qua diễn đàn Pa-ri, thực hiện sự phối hợp đấu tranh ngoại giao với hoạt động quân sự, chính trị, phá chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", kéo Mỹ xuống thang, phê phán chính sách rút quân nhỏ giọt, đòi Mỹ phải định ra thời hạn rút hết quân, bảo đảm cho quân và dân miền Nam tiếp tục đánh mà dư luận vẫn đồng tình ủng hộ cuộc chiến đấu của ta. Những đề nghị hai đoàn Việt Nam đưa ra trong những năm này đều có tiếng vang lớn.
Ðàm phán thực chất chỉ diễn ra sau khi Mỹ đã cảm nhận được thất bại của chính sách Việt Nam hóa chiến tranh, nhất là sau thắng lợi của ta ở Ðường 9 - Nam Lào và sau chiến dịch Xuân Hè 1972, giải phóng thêm được nhiều vùng rộng lớn.
Từ cuối năm 1971 đến mùa thu năm 1972, cả ta và Mỹ đều đưa ra những đề nghị mới, thông qua đàm phán công khai và đàm phán riêng, đi đến thỏa thuận một văn bản Hiệp định vào ngày 20-10-1972. Nhưng rồi trước sự phản ứng dữ dội của chính quyền Sài Gòn, và sau khi Ních-xơn trúng cử Tổng thống nhiệm kỳ hai, Mỹ đã lật lọng đòi sửa đổi hầu hết những điều cơ bản trong Hiệp định ấy. Ta kiên quyết bác bỏ những đòi hỏi đó.
Không ép được ta, chính quyền Ních-xơn đã tung ra con "át chủ bài" cuối cùng, mở cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi khác. Cuộc tập kích chiến lược ấy đã bị giáng một đòn chí mạng. Chiến thắng "Hà Nội - Ðiện Biên Phủ trên không" của ta đã buộc Mỹ trở lại bàn đàm phán và đi đến ký kết Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27-1-1973.
Với Hiệp định Pa-ri, Mỹ cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Mỹ rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam, trong khi quân đội miền Bắc vẫn ở lại. Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam được tôn trọng. Ở miền Nam cùng tồn tại hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát.
Hiệp định Pa-ri đáp ứng những yêu cầu cơ bản có tính nguyên tắc mà Việt Nam đã nêu lên trong đàm phán.
Hiệp định Pa-ri thật sự khép lại giai đoạn "đánh cho Mỹ cút" và mở ra giai đoạn "đánh cho ngụy nhào".
Hai năm sau Hiệp định Pa-ri là hai năm chính quyền Sài Gòn ra sức phá hoại việc thi hành Hiệp định, cũng là hai năm quân và dân ta tiếp tục cuộc chiến đấu đập tan những hành động phá hoại ấy, và tiến lên làm nên một Ðại thắng mùa Xuân lịch sử ngày 30-4-1975, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến toàn thắng!