Cuộc chiến cuối cùng của một vị tướng

Trên đồi A1, trả lại thư của vợ tướng De Castries gửi cho chồng

Điện Biên Phủ tháng 4-1954, Nguyễn Đôn Tự, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 255, Trung đoàn 174, Sư đoàn 316 nhận được kế hoạch đánh hầm ngầm trên đồi A1: công binh sẽ bí mật đào một đường hầm tới hầm ngầm của địch và dùng khối lượng lớn thuốc nổ để đánh sập.

Ngày 20-4 khởi công, lúc đầu định kích thước có thể đi khom được nhưng càng vào sâu càng khó đào nên hầm càng hẹp. Địch dùng súng phóng lựu AT bắn tới tấp về phía cửa hầm. Những trận chiến ác liệt đã nổ ra, quân Pháp chiếm 2/3 quả đồi ở phía trên, ta chiếm 1/3 phía dưới, giằng co nhau từng mét đất.

Khi các giao thông hào tiến sát đến hàng rào dây thép gai, thì dù do máy bay địch thả xuống rơi vào khu vực của ta càng nhiều. Lần nọ, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đôn Tự mở một chiếc dù ra thấy hai cuốn tiểu thuyết và một bức thư. Vốn thạo tiếng Pháp, Nguyễn Đôn Tự đọc qua phong bì biết ngay đó là thư của vợ tướng De Castries gửi cho chồng. Sau khi được cấp trên đồng ý, Nguyễn Đôn Tự bảo thông tin gọi điện thông báo cho De Castries có thư vợ, cho người cầm cờ trắng ra chân đồi (tọa độ X) sẽ nhận được. Chỉ một giờ sau, một lính Pháp vác cờ trắng ra địa điểm quy định, ta đã trả lại gói quà. Chẳng biết cử chỉ đẹp này của bên kia chiến tuyến, giữa bom đạn, chết chóc có làm cho De Castries ngẫm ngợi gì không, chỉ biết sau đó ông ta đã gửi lời cảm ơn.

Những chiếc dù rơi không đúng địa chỉ đã đem đến cho ta nhiều tặng phẩm bất ngờ. Một lần, nhặt được một cây đá, bộ đội đập đá ra tắm rửa, cho vào nước uống thoải mái. Nhưng đặc biệt nhất có lẽ là chiếc dù chứa toàn rau tươi mang "thương hiệu” Láng nổi tiếng. Trong cơn thèm rau đến cháy họng, chiếc dù rau thực sự là bữa "đại tiệc" của chiến sĩ ta. Riêng Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đôn Tự vốn quê ở Nhân Chính gần Láng, thì mấy bữa được ăn rau mà bùi ngùi như gặp lại cố hương.

Ngày 5-5-1954, đường hầm dài khoảng 50m được hoàn thành. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định lấy tiếng nổ của quả bộc phá vào 20 giờ ngày 6-5-1954 làm hiệu lệnh tấn công. Bộ phận cuối cùng do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đôn Tự phụ trách bảo vệ cửa hầm rút trước giờ G 5 phút. Đến 4 giờ 40 sáng 7-5, ta làm chủ hoàn toàn đồi A1... 

Bức thư gửi Đô đốc Hải quân Mỹ Emol Zumwalt

Năm 1971, Nguyễn Đôn Tự tham gia giải phóng thị xã Quảng Trị và trên đường từ Vĩnh Linh đến A Lưới, phái đoàn của ông đi qua một rừng cây trụi lá, những dòng suối có mầu rất lạ... Cứ tưởng bình thường như bao rừng cây ngọn suối khác, nào ngờ tất cả đều đã bị nhiễm chất độc hóa học do quân Mỹ rải xuống...

Năm 1973 con gái thứ hai của ông - Nguyễn Vũ Hà Lan chào đời với những dấu hiệu không bình thường. Các bác sĩ đã kết luận Hà Lan bị nhiễm chất độc hóa học từ bố, não bị liệt và trí tuệ không thể phát triển bình thường.

"Có bệnh thì vái tứ phương", Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự đã đưa Hà Lan đi chạy chữa tại nhiều bệnh viện hàng đầu ở Việt Nam nhưng vẫn chẳng khả quan. Năm 1981, được điều sang Moscow công tác, ông mang theo Hà Lan với hy vọng sẽ chữa khỏi bệnh cho con gái tại các bệnh viện nổi tiếng nhất của Liên Xô thời đó. Vô vọng vẫn hoài vô vọng. Năm 1989, cha con ông về nước, sau chín năm điều trị ở nước ngoài, bệnh tình của Hà Lan dường như lại có dấu hiệu nặng hơn...

Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự không hề biết rằng ở bên kia bán cầu có ít nhất một gia đình đang phải chịu nỗi đau như ông. Đó là gia đình Đô đốc Hải quân Mỹ Emol Zumwalt - một trong những vị tướng hiếu chiến nhất thời "Việt Nam hóa chiến tranh". Emol Zumwalt đã ra lệnh rải hàng nghìn lít hóa chất làm rụng lá xuống các rừng rậm, sông ngòi.Trớ trêu thay, con trai ông Zumwalt III sang tham chiến ở Việt Nam - đã hành quân vào vùng bị nhiễm độc đó. Mọi chuyện tưởng như kết thúc khi cha con Zumwalt lên máy bay về nước, nhưng ngay trên đất Mỹ, Đô đốc Zumwalt đã phải chịu quả báo. Zumwalt III bị mắc hai chứng bệnh ung thư và con trai anh, cậu bé Russel cũng bị mắc căn bệnh hiểm nghèo này vì nhiễm chất độc hóa học từ người cha. Đô đốc Zumwalt đau đớn thét lên: "Khi phát ra những mệnh lệnh để tăng cường hủy diệt lá cây trong ý thức tôi  không hề nghi ngờ rằng, cuối cùng bằng cách gián tiếp, tôi phải chịu trách nhiệm trước việc Zumwalt bị nhiễm nặng chất da cam. Chính điều đó đã biến tôi thành một công cụ trong tấn thảm kịch của con mình".

Trong sự sám hối, Zumwalt đã viết cuốn sách " Cha và con” kể về nỗi đau của gia đình mình, thừa nhận sai lầm và chỉ ra sự sai lầm của chiến tranh mà Mỹ gây ra ở Việt Nam.

Cuốn sách "Cha và con" đến tay Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự khi ông đang ở Moscow. Ông đã đọc để rồi thực sự thấu hiểu nỗi đau của vị Đô đốc Hải quân này. Thế rồi, ngày 25-11-1994,Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự viết bức thư đầy chia sẻ gửi Zumwalt... Bức thư không có chỗ cho thù hận, vượt lên tất cả là lòng bao dung, sự hàn gắn để hướng tới tương lai. Ông viết: Gia đình ông và gia đình tôi cùng có một vết thương còn kéo dài trong nhiều thế hệ... Tôi hoan nghênh việc ông đã chủ động hoạt động để góp phần giải quyết hậu quả của chiến tranh trong đó có hậu quả của chất da cam...".

Ngày 7-3-1995 Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự nhận được thư hồi âm của Đô đốc Emol Zumwalt. Emol đã rất cảm kích trước sự sẻ chia của Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự và tin rằng cố gắng này sẽ đem đến lợi ích cho thế hệ tương lai. Và chỉ mấy năm sau, James Zumwalt - con trai thứ hai của Emol - đã đến Hà Nội thăm gia đình ông Nguyễn Đôn Tự, sự khởi đầu cho một mối tình còn bền chặt cho đến hôm nay...

30 năm nuôi con mọn

Chậm rãi, ông ngồi chắp nối lại hồi ức của một vị tướng từng đi qua hai cuộc chiến tranh. Thỉnh thoảng tiếng kêu là lạ của Hà Lan xen vào cuộc trò chuyện. Năm nay đã hơn 30 tuổi nhưng Hà Lan vẫn đang sống gần như vô thức, không nói, không cười, dường như tiếng khóc là ngôn ngữ duy nhất của cô. Đau đầu, đói bụng... chỉ biết khóc. Khóc đêm, khóc ngày. Cô gái này có thói quen xé những tờ báo thành mảnh vụn vung vãi ra khắp sàn nhà.

Tôi cảm nhận được nỗi buồn sâu thẳm trên gương mặt già nua mệt mỏi của ông. Đối với vị tướng về hưu này, hành trình cứu chữa, chăm sóc, nuôi dưỡng Hà Lan là một cuộc chiến cuối cùng mà càng về sau ông càng đuối sức. Thời gian đang chống lại ông. Bước chân ông đã từng đi khắp những nẻo đường Tây Bắc, Trường Sơn... mà bây giờ dìu cô con gái của mình vào nhà vệ sinh lại lẩy bẩy, cho tôi cái cảm giác rằng chính ông cũng cần người dìu.

30 năm nay, gần như chẳng đêm nào ông được ngủ yên, chẳng ngày nào ông ra khỏi nhà mà lòng thanh thản. Những lúc buồn, ông thường dạo những bản nhạc trữ tình trên cây đàn dương cầm, khi ấy, dường như Hà Lan cũng hiểu được tâm sự của cha, cô im lặng lắng nghe... Nhưng giờ đây ngón tay dạo trên phím đàn của ông đã run rẩy lắm rồi.

"Tôi đang tính phải có một khoản tiền gửi tiết kiệm, mỗi tháng ít nhất phải có 2 triệu đồng để sau này thuê người chăm sóc Hà Lan. Vợ chồng tôi gần đất xa trời rồi...". Ông nói và bỗng thảng thốt khi hình dung ra cái khoảng trống vắng trong cuộc đời có lẽ là còn dài của Hà Lan...

Nguyễn Đôn Tự là một trong ba người đầu tiên trong Hội Nạn nhân da cam viết đơn kiện các công ty sản xuất hóa chất của Mỹ đã sản xuất ra chất làm rụng lá rải xuống Việt Nam ngày ấy. Vị tướng về hưu này tin tưởng mạnh mẽ vào sự chiến thắng của lẽ phải, cũng như giờ đây ông ở tuổi xế chiều ông vẫn chờ đợi, vẫn khắc khoải hy vọng rằng một ngày nào đó Hà Lan sẽ cất tiếng gọi tên bố mẹ sau hơn 30 năm câm lặng...

Có thể bạn quan tâm