Công ty mía đường La Ngà sau cổ phần hóa

Những công trình mơ ước

Anh Trần Văn Ngà, Phó Tổng giám đốc công ty đã dẫn lời đồng nghiệp "Bắc có Lam Sơn, Nam có La Ngà". Ðể khỏi nhầm lẫn, anh nói rõ thêm - La Ngà cổ phần hóa.

Tiền thân của đơn vị là Nhà máy đường La Ngà thuộc Liên hiệp mía đường 2, công suất thiết kế 2.000 tấn mía cây/ngày, được thành lập tháng 4-1984, đến tháng 9-1986 sáp nhập với hai nông trường mía Cao Cang và Phú Ngọc thành Xí nghiệp liên hợp công nông nghiệp mía đường La Ngà.

Tháng 3-1991, được đổi thành Xí nghiệp công nông nghiệp mía đường La Ngà và sau đó là Công ty mía đường La Ngà thuộc Tổng công ty mía đường 2 vào tháng 1-1994.

Công ty được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án cổ phần hóa vào ngày 14-1-2000 và chính thức hoạt động theo mô hình công ty cổ phần từ tháng 4-2000 với tổng vốn điều lệ được xác định 82 tỷ đồng, trong đó vốn Nhà nước 35%.

Sau cổ phần hóa, công ty đã tích cực tìm kiếm các nguồn vốn tín dụng để đầu tư nhiều công trình thuộc cả hai lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp. Ðến nay, công ty đã đưa vào sử dụng bốn công trình phục vụ vùng nguyên liệu gồm hệ thống tưới mía giống năng lực tưới 50 ha mía tại trại thực nghiệm, xây dựng bản đồ nông hoá thổ nhưỡng cho vùng mía nguyên liệu làm cơ sở xác định quy trình canh tác và định mức phân bón phù hợp, một số đề tài khoa học - kỹ thuật trong nông nghiệp về giống mía mới, phương pháp phủ bạt nylon, bón phân đặc chủng cho cây mía, phương pháp để lá mía sau thu hoạch, cơ giới hóa khâu chăm sóc thông qua các thiết bị cây không lật, băm vùi lá mía, dự án trồng nấm nuôi bò giúp người trồng mía tăng thu nhập.

Bên cạnh đó, công ty cũng đã đầu tư năm công trình công nghiệp gồm xây dựng nhà máy phân hữu cơ vi sinh công suất 5.000 tấn/năm, lắp đặt hệ thống đường cống hơi cung cấp hơi cho Công ty liên doanh men Mauri - La Ngà, xây dựng nhà máy ván dăm từ bã mía công suất 7.000 m3 năm, xây dựng nhà máy đường trắng, lắp đặt máy khoan mẫu mía với tổng vốn chín công trình lên đến hơn 62 tỷ đồng.

Phó Tổng giám đốc Trần Văn Ngà khẳng định, đó là những công trình mà bất cứ một đơn vị sản xuất đường mía nào cũng mơ ước, bởi nó góp phần duy trì và phát triển ổn định vùng nguyên liệu thông qua việc nâng năng suất, chất lượng nguyên liệu, giảm giá thành đầu tư để tăng thu nhập cho người trồng mía; tận dụng nguồn phế liệu để sản xuất những loại sản phẩm mới tạo thêm doanh thu, lợi nhuận cho đơn vị và việc làm cho người lao động.

Anh Nguyễn Ngọc Doanh, Trưởng trại Thực nghiệm cho biết thêm, lúc còn là doanh nghiệp nhà nước, công ty đã từng ao ước trang bị hệ thống tưới cho trại thực nghiệm, nhưng vì nhiều lý do không thể thực hiện được.

Hiện nay, trại thực nghiệm được quy hoạch đến 90 ha và mới sử dụng hết 51 ha gồm khu thực nghiệm 21 ha được trang bị hệ thống tưới phun hoàn chỉnh và khu khảo nghiệm 30 ha thường xuyên khảo nghiệm hơn 60 loại giống. Sắp tới, công ty tiếp tục đầu tư khoảng sáu tỷ đồng mở rộng khu thực nghiệm bảo đảm cung ứng phần lớn các loại giống đủ tiêu chuẩn cho các trại sản xuất giống tại các vùng nguyên liệu của đơn vị.

Hiệu quả của đầu tư

Khu trại thực nghiệm (ấp 7, xã Phú Ngọc, huyện Ðịnh Quán) đã hơn một tháng không mưa, cộng với cái nắng đổ lửa của một buổi trưa đầu mùa khô như muốn đốt cháy các loại hoa màu, nhưng đám mía giống vẫn phát triển mạnh, xanh um nhờ liên tục được mấy chục chiếc vòi phun tưới liên tục.

Anh Ngô Hồng Tố, công nhân vận hành máy bơm người ướt sũng nước cho biết, nếu không được tưới đầy đủ, mía giống còi cọc, vừa không đạt tiêu chuẩn vừa không đủ số lượng cung cấp cho các trại nhân giống.

Trưởng trại Nguyễn Ngọc Doanh không giấu niềm tự hào, mỗi năm trại cung ứng cho các điểm nhân giống cả nghìn tấn, riêng vụ một năm nay được 700 tấn, đủ trồng 140 ha, nhân ra khoảng 5.000 tấn, bảo đảm hơn 50% nhu cầu của vùng nguyên liệu.

Phó Tổng giám đốc Trần Văn Ngà cho rằng, sau cổ phần hóa, công ty mới có cơ hội thực hiện những dự án phát triển vùng nguyên liệu, và do đó mới có cơ sở khoa học để hướng dẫn người trồng mía thực hiện những biện pháp canh tác mới, nâng năng suất bình quân 40 - 45 tấn/ha năm 2000 (trước khi cổ phần hóa) lên 55 - 60 tấn năm 2003 và chất lượng tăng tương ứng từ CCS 8,3% lên 9,2%.

Bên cạnh đó, công ty còn liên tục bổ sung nhiều chính sách hỗ trợ vùng nguyên liệu, như hỗ trợ lãi suất đầu tư, hỗ trợ chi phí chuyển đổi sang trồng mía, hỗ trợ sử dụng giống, khuyến khích thưởng bán vượt định mức, thưởng bán mía sạch, mía chữ đường cao, hỗ trợ chi phí vận chuyển cho vùng sâu, vùng xa, hỗ trợ chi phí tưới chống hạn... nhằm bảo đảm thu nhập cho người trồng mía. Nhờ vậy mà diện tích mía tại vùng nguyên liệu giảm không đáng kể mặc dù bị các loại cây trồng khác cạnh tranh quyết liệt, sản lượng mía thu mua đưa vào chế biến vẫn tăng đều hằng năm 7-11,2%.

Theo Tổng giám đốc công ty Phạm Như Hóa, cần tìm đủ mọi cách tăng lợi nhuận từ sản xuất công nghiệp để hỗ trợ cho nông nghiệp, yếu tố sống còn của đơn vị, đồng thời bảo đảm tăng doanh thu, nộp ngân sách, thu nhập của người lao động và cổ tức của cổ đông tăng... Do đó, mỗi năm công ty đã đầu tư hàng tỷ đồng để sửa chữa lớn thiết bị nhằm hạn chế tới mức thấp nhất sự cố ngừng máy, đầu tư cải tiến kỹ thuật nâng cấp thiết bị tăng công suất thiết kế thêm 500 tấn mía cây một ngày, nâng hiệu suất thu hồi đường, nâng chất lượng sản phẩm.

Ðặc biệt, những dự án công nghiệp đã nhanh chóng mang lại hiệu quả, cụ thể dự án đường ống hơi trị giá 150 triệu đồng mang về mỗi năm 500 triệu đồng, hai nhà máy phân vi sinh và ván dăm sản xuất phục vụ vùng nguyên liệu và thị trường đang có nhu cầu cao.

Năm 2004, công ty đạt doanh thu 132 tỷ đồng, nộp ngân sách hơn 10 tỷ đồng, lợi nhuận 11 tỷ đồng, thu nhập bình quân của người lao động 1,25 triệu đồng một tháng, chia cổ tức 10%, đạt và vượt mục tiêu nghị quyết, tăng so với năm 2000. Ðồng thời, tích lũy hơn tám tỷ đồng bổ sung quỹ phát triển sản xuất, vốn Nhà nước trong công ty vẫn giữ mức 51%, nhưng tăng 16% về giá trị tuyệt đối so với năm 2000.

Ðiều làm cho công ty luôn cảm thấy lo lắng bởi thương lái luôn len lỏi tranh mua nguyên liệu trong vùng đầu tư của công ty, đẩy giá lên cao dẫn đến tình trạng người trồng mía không thực hiện hợp đồng đã ký, gây không ít khó khăn đến kế hoạch sản xuất và thu hồi nợ đầu tư của công ty.

Nếu cơ quan chức năng có hình thức xử phạt nghiêm khắc, buộc các bên liên quan thực hiện hợp đồng đã ký, lập lại trật tự trong tiêu thụ nông sản theo Quyết định 80 của Chính phủ, chắc chắn người trồng mía và công ty đều yên tâm đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp và mở rộng vùng trồng mía.

LÂM HUỆ NỮ

Có thể bạn quan tâm