Công nghệ hồ treo: Giải quyết “cơn khát” trên cao nguyên đá

Hồ treo Xà Phìn.
Hồ treo Xà Phìn.

"Giam" nước trên non

"Tại sao lại không "giam" nguồn nước suối để dùng dần mà cứ phải chịu cảnh thiếu nước mỗi mùa khô đến?" - câu hỏi đơn giản trên đã dẫn đến ý tưởng thực hiện đề tài của TS Vũ Cao Minh. Sở dĩ chọn khu vực Nà Phạ làm nơi khảo sát nghiên cứu vì đặc điểm thổ nhưỡng, địa chất ở đây khá điển hình cho cao nguyên đá Hà Giang với những dãy núi trọc, trơ đá, hệ động thực vật nguyên sinh gần như bị huỷ diệt, mùa khô không có nước sử dụng. Mùa mưa nước chảy mạnh gây xói mòn, lũ quét…

Theo phân tích của ông Vũ Cao Minh, nguồn nước Nà Phạ có các điểm xuất lộ nước, khởi phát từ độ cao 1.150m đến 1.200m chảy về và hợp lưu tại bản Nà Phạ, dưới độ cao 900m thành suối Nà Phạ. Suối đổ vào hang cacxtơ chảy ngầm trong núi khoảng 1km và thoát ra ở sườn thấp, rồi đổ vào sông Nhiệm. Nguồn nước thường xuyên có lưu lượng 2m3/s. Lưu vực suối Nà Phạ trước khi chảy vào hang rộng gần 1,2km2, mặt đệm thấm nước là đất đá ít thấm nước, lưu lượng nước thay đổi theo mùa. Tổng lượng nước ước tính khoảng 1 triệu m3/năm, chất lượng nước có thành phần hoá lý đảm bảo cho nhu cầu sinh hoạt. Các hàm lượng nitrat, nitrit, amoniăc, nguyên tố vi lượng đều rất nhỏ so với tiêu chuẩn cho phép… Từ những dữ kiện trên có thể đi đến kết luận: Với trữ lượng nước gần 1 triệu m3/năm, việc xây dựng hồ đập chứa nước ngay tại nguồn, có thể khai thác hết công suất nước, cung cấp nước sinh hoạt cho khoảng 2 đến 3 vạn người ở mức bình quân 150lít nước/người/ngày....

Công nghệ mới trên nền cách làm cũ

Thực ra, việc tích trữ nước mưa vào hồ chứa là việc làm kinh điển như hồ Suối Hai, Suối Ba, Trị An, Sông Đà. Tuy nhiên, những công trình này thi công với chi phí rất lớn, yêu cầu kỹ thuật phức tạp, trình độ và thiết bị đòi hỏi ở mức cao và phần lớn những hồ chứa ấy lại nằm ở vị trí thấp nhất của một tổ hợp nhiều quả núi nên gần như không hỗ trợ cho việc chống hạn, chống cháy rừng và tưới tiêu trên đồi cao.

Đối với công nghệ hồ treo, cách làm mới là xây nhiều hồ nhỏ trên núi, đơn giản và tiết kiệm. Phương pháp là chọn những vị trí thuận lợi, những chỗ thắt của các con suối để xây hồ. Thấy rõ những thế mạnh của công nghệ hồ treo, tỉnh Hà Giang đã triển khai thăm dò và xây dựng thử nghiệm "hồ treo" Xà Phìn, tại bản Xà Phìn B xã Xà Phìn huyện Đồng Văn, với dung tích khoảng 3.000m3, bằng các giải pháp kỹ thuật đáy và thành hồ được gia cố, đảm bảo không bị đục hoặc thẩm thấu. Hồ được xây dựng ngay cạnh đường đi Đồng Văn, có hình trái tim được thiết kế rất thẩm mỹ và hiệu quả.

Việc thử nghiệm hồ Xà Phìn thành công đã tạo động lực cho các nhà khoa học tiếp tục đề xuất xây dựng công trình hồ treo Tả Lủng tại xã Tả Lủng, huyện Mèo Vạc. Hồ có dung tích 3 vạn mét khối. Để tạo mặt bằng của đáy hồ,  những người xây dựng đã phá, nổ hơn 1.000m3 đá vôi, hàng chục giếng, hang ngầm có đường kính từ 0,5  - 1m, sâu từ 5 - 10m được san lấp và gia cố bằng vật liệu chống thấm.

Cần nhân rộng  

Trong chuyến thăm Hà Giang đầu năm 2007, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã đi thị sát các huyện vùng cao núi đá Đồng Văn, Quản Bạ, Mèo Vạc, Yên Minh, trong đó có xem xét việc cấp nước sinh hoạt cho người dân. Thủ tướng đã đồng ý cho xây dựng 30 hồ chứa nước bằng giải pháp công nghệ "hồ treo" tại các huyện này với tổng kinh phí khoảng 90 tỷ đồng, bằng ngân sách nhà nước.

Hy vọng thành công từ Đồng Văn sẽ mở ra một hướng mới trong việc giải quyết những "cơn khát" ở các vùng hạn hán trên toàn quốc bởi theo tính toán của các chuyên gia Viện địa chất học: Nếu tận dụng tất cả các điều kiện tự nhiên, đặc điểm thành phần vật chất của các địa tầng, các tầng cấu trúc địa chất, địa hình, thuỷ văn, địa chất công trình, bằng công nghệ "hồ treo" có thể cung cấp nước cho tất cả người dân sống trên các vùng thiếu nước.

Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, nhìn rộng ra, nếu công nghệ này được ứng dụng trên toàn quốc, những chiếc hồ treo trên núi có thể chứa và thấm được lượng nước mưa rất lớn, góp phần chống lũ lụt cho vùng đồng bằng. Nếu được nhân rộng trên quy mô toàn quốc, công nghệ này không chỉ giải quyết nhu cầu nước sinh hoạt của người dân mà còn góp phần hạn chế nguy cơ về lụt lội, hạn hán, xói mòn, cháy rừng…        

Có thể bạn quan tâm