Công an Lâm Đồng phá chuyên án buôn bán phụ nữ

Những lá đơn chứa đầy nước mắt

Lá đơn đầu tiên mà cơ quan công an nhận được đó là đơn tố giác của chị Nguyễn Thị Th. (SN 1986 trú tại Tuy Phong, Bình Định) gửi Công an TP Đà Lạt vào ngày 28-11-2005. Chị Th. tố giác: Tháng 9-2005, chị lên TP Đà Lạt tìm việc làm thì gặp và làm quen với một nhóm thanh niên. Nhóm thanh niên đã ra tay giúp đỡ chị Th. bằng cách rủ chị ra Hà Nội bán hàng thuê cho người chị của một tên trong nhóm với mức lương khá hấp dẫn: 3 đến 4 triệu đồng/tháng. Tin lời, chị Th. theo chúng ra Hà Nội. Chưa kịp biết hết khung cảnh thủ đô, chị Th. lại được chúng rủ sang Trung Quốc thăm thú rồi về làm cũng chưa muộn. Vốn sống ở quê, chưa hề vấp ngã và cũng không lường trước được mọi việc nên chị Th. đã... đưa chân. Sang đến đất Trung Quốc bọn chúng biến hết, chỉ còn lại duy nhất một tên người Trung Quốc nhưng nói tiếng Việt rất sõi. Kể từ đó chị qua tay nhiều chủ chứa và bị bắt đi tiếp khách liên tục. Đến tháng 11-2005, chị may mắn trốn được về Việt Nam và lên Đà Lạt gửi đơn tố cáo.

Trên cơ sở nội dung lá đơn của chị Th., Công an TP Đà Lạt đã tung trinh sát đi xác minh. Do chị Th. quá tin người và bọn chúng lại rất cáo già nên suốt cuộc hành trình từ khi quen biết đến khi bị bán sang Trung Quốc, chị Th. chỉ biết có hai đối tượng chính và tên chúng là Beo Sình và Lan nhà ở Đà Lạt. Quá khó khăn cho công tác điều tra nếu cứ tập trung vào hai cái tên người mà không biết là thật hay hư này.

Công tác xác minh vẫn đang được tiến hành thì ngày 26-1-2006, bà Nguyễn Thị T. trú tại phường 5, TP Đà Lạt đến công an thành phố trình báo con gái bà tên là Nguyễn Thị Thu H. (SN 1987) đã bỏ nhà đi từ tháng 7-2005 và đến ngày 25-1-2006 thì H. có điện về và nói rằng H. bị bọn buôn người bán sang Trung Quốc làm gái mại dâm từ đó đến nay.

Toàn bộ thông tin về hai trường hợp bị lừa bán sang Trung Quốc lập tức được báo đến Ban Giám đốc Công an tỉnh. Vụ việc không còn là nghi vấn mà thực sự là vụ án với quy mô và mức độ phạm tội nghiêm trọng. Vụ án được giao cho Phòng CSĐT thành phố về trật tự xã hội (PC 14) Công an tỉnh và Công an TP Đà Lạt cùng phối hợp điều tra. Những trinh sát (TS) của Phòng PC 14 đã được lệnh xuống địa bàn, nắm lại cơ sở và thu thập thông tin. Kết luận ban đầu là có một đường dây buôn bán phụ nữ đang hoạt động trên địa bàn TP Đà Lạt. Hàng loạt câu hỏi: Bọn chúng là ai, ở đâu, có bao nhiêu đối tượng, ai là kẻ cầm đầu... như thách thức các TS.

Để nhanh chóng bóc gỡ đường dây buôn người này, ngày 10-2-2006 Công an tỉnh quyết định xác lập Chuyên án mang bí số T206 và thành lập Ban chuyên án. Mọi thông tin của TS đều được tập trung và xử lý tại một đầu mối, có sự chỉ đạo sát sao. Mặc dù nạn nhân Th. đã có mặt tại địa phương nhưng những thông tin do chị cung cấp rất mơ hồ và không có cơ sở để kết luận nên yêu cầu đặt ra lúc này là bằng mọi cách phải giải thoát cho được nạn nhân H. để phục vụ đấu tranh.

Giải cứu nạn nhân

Cả gia đình đều không biết chị H. đang ở nơi nào trên đất Trung Quốc. Mối liên hệ duy nhất giữa chị H. và gia đình chỉ là điện thoại. Tra tìm thì được biết số điện thoại chị H. gọi về nhà thuộc khu vực TP Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc giáp với Móng Cái (Quảng Ninh). Chị H. cho biết chị gọi về rất khó khăn vì luôn bị một đối tượng giám sát và uy hiếp nếu chị có ý đồ báo cho công an. Lần gọi về gần nhất chị H. cho biết bọn chúng đang chuẩn bị bán chị cho một chủ khác.

Trước tình thế cấp bách, Ban chuyên án chỉ đạo phải xác định chính xác nơi chị H. đang ở và phải giải cứu được chị H. trước khi bọn chúng bán chị cho chủ khác. Một tổ TS được cử đến ngay cửa khẩu Móng Cái để kết hợp cùng Công an TX Móng Cái và Công an TP Đông Hưng bàn kế hoạch giải cứu chị H.

Không xác định được nơi ở của chị H. nên TS đề xuất phương án câu nhử và được Ban chuyên án chấp nhận. Thực hiện phương án này, TS đã thực hiện nhiều biện pháp nghiệp vụ, cụ thể là chị H. phải xin phép chủ cho chị ra cửa khẩu Đông Hưng để gặp mẹ. Phải mất rất nhiều cuộc điện thoại gọi đến xin phép giùm chị H, cuối cùng chúng mới chấp nhận. Điểm hẹn trên đất bạn nên Công an Việt Nam không thể có mặt để giải cứu mà phải nhờ đến sự giúp đỡ của công an nước bạn. Chị H. đến điểm hẹn và ngay lập tức được Công an TP Đông Hưng giải cứu trao cho ta cho dù tên giám sát đã phát hiện bị lừa và cố giằng lại nạn nhân. Chị H. trở về gia đình trong niềm vui không thể kể xiết.

Cất vó

Từ đây, toàn bộ đường dây cũng như những đối tượng tham gia đường dây buôn bán phụ nữ Đà Lạt sang Trung Quốc đã được dựng lên. Ban chuyên án đã xác định, đường dây này gồm năm đối tượng với nhiều cái tên biệt danh Beo Sình, Bé Sen... Sau khi xác định được Beo Sình là biệt danh của Trần Trọng Tường (SN 1985) trú tại đường 3/2, P4, TP Đà Lạt và Trần Thị Lan (SN 1982) - là chị của Tường, TS đã bí mật theo dõi và tìm cách tiếp cận.

Sau một thời gian thu thập thông tin, Ban chuyên án xác định kẻ chủ mưu và cầm đầu đường dây này là Nguyễn Văn Thành (SN 1980) trú tại 1B Vạn Kiếp và một đối tượng khác là Lý Quốc Hòa (SN 1987 còn gọi là Tuấn Sài Gòn) trú tại P 5, TP Đà Lạt. Riêng đối tượng A Khởi là người Trung Quốc hiện chưa về Việt Nam, việc chưa bắt được Khởi không ảnh hưởng đến việc đấu tranh phá chuyên án nên ngày 27-2-2006, Ban chuyên án quyết định phá án. Các đối tượng Thanh, Lan, Tường, Hòa lần lượt bị bắt giam, khởi tố.

Tại cơ quan công an, bọn chúng khai nhận đã ba lần đưa trót lọt năm phụ nữ sang Trung Quốc nhưng chỉ bán được ba người. Tên Thành là kẻ cầm đầu giữ mối liên hệ với tên A Khởi đang trên đất Trung Quốc, các đối tượng còn lại tìm cách tiếp cận "con mồi", đưa ra chiêu bài dụ dỗ đi du lịch, xin việc làm rồi tìm cách đưa các nạn nhân sang Trung Quốc cho A Khởi tiêu thụ.

Có thể bạn quan tâm