Sau Hội nghị T.Ư 3 (khóa IX) (24-9-2001), nhất là sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 64 (ngày 19-6-2002), việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (CPH DNNN) đã được đẩy nhanh hơn gắn liền với việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN. Trong số 1.557 doanh nghiệp và bộ phận DNNN được cổ phần hóa, chỉ từ năm 2001 đến 2003, đã có 979 doanh nghiệp và bộ phận DNNN được cổ phần hóa. Ðó là một kết quả tích cực. Nhưng, như Nghị quyết Hội nghị T.Ư 9 (khóa IX) nhận định: "Việc sắp xếp, đổi mới, nhất là cổ phần hóa DNNN theo tinh thần Nghị quyết T.Ư 3 thực hiện chậm so với mục tiêu đề ra". Vì sao?
Có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó có nguyên nhân trước hết cần nói đến là nhận thức và tư tưởng.
Nghị quyết T.Ư 3, trong khi chủ trương đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN, đã ghi: "Cổ phần hóa DNNN không được biến thành tư nhân hóa DNNN". Do không nhận rõ bản chất của vấn đề, có ý kiến cho rằng, đó là một quy định nhằm cảnh báo khuynh hướng "chệch hướng XHCN", bởi lẽ nếu biến DNNN - bộ phận quan trọng nhất của kinh tế Nhà nước, thành doanh nghiệp tư nhân (hay tư nhân hóa DNNN), cũng có nghĩa là tư nhân hóa nền kinh tế. Không phải là tất cả, nhưng ít ra nhận thức không đúng đó cũng đã làm trở ngại đến việc tổ chức và tham gia cổ phần hóa.
Ðối với cán bộ hoạch định chính sách, không khỏi có sự ngần ngại, thiếu mạnh dạn trong việc đề xuất các chính sách cụ thể để đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa và tạo chính sách cho DNNN phát triển.
Ðối với người lao động tham gia cổ phần, không khỏi có nhận thức cho rằng, đấy chỉ là biện pháp Nhà nước san sẻ gánh nặng cho cổ đông, thật sự thì Nhà nước vẫn nắm vai trò chủ chốt.
Ðối với các thành phần kinh tế tư nhân, vốn có xu hướng ngần ngại trong việc tham gia DNNN, cho rằng, thà cứ phát triển doanh nghiệp tư nhân còn hơn là tham gia với DNNN để rồi đến một lúc nào đó, hết khó khăn, Nhà nước lại nhà nước hóa doanh nghiệp cổ phần.
"Cổ phần hóa DNNN không được biến thành tư nhân hóa DNNN", có nghĩa như thế nào?
Trước hết, cần phân biệt thế nào là cổ phần hóa và thế nào là tư nhân hóa?
Cổ phần hóa DNNN, theo Nghị quyết T.Ư 3, là tạo ra loại hình doanh nghiệp vốn chỉ có một chủ sở hữu là Nhà nước thành ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động và tư nhân tham gia. Còn tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước có nghĩa là biến doanh nghiệp do Nhà nước chủ sở hữu thành doanh nghiệp do tư nhân chủ sở hữu, cũng tức là biến doanh nghiệp nhà nước thành doanh nghiệp tư nhân.
Trong doanh nghiệp cổ phần hóa, có cổ phần của Nhà nước (cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt, hoặc cổ phần ở mức thấp) đồng thời có cổ phần của tư nhân và cổ phần của kinh tế tập thể. Như vậy không thể gọi đó là tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước được. Nhưng nếu tính chung loại cổ phần do tư nhân mua của Nhà nước và do tư nhân góp vốn thêm vào trong doanh nghiệp cổ phần là bộ phận được tư nhân hóa hay là của tư nhân thì cách hiểu đó cũng không sai.
Hai là, cần nắm vững mục tiêu của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
Mục tiêu đó như Nghị quyết T.Ư 3 chỉ rõ, không phải là để tư nhân hóa DNNN - tức là xóa bỏ DNNN, mà là để tạo ra một loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu nhằm vừa sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước vừa huy động thêm vốn của xã hội vào phát triển sản xuất, kinh doanh; vừa tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, có hiệu quả cho DNNN vừa phát huy vai trò làm chủ thật sự của người lao động, của cổ đông và tăng cường sự giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động.
Trong chủ trương "Cổ phần hóa DNNN không được biến thành tư nhân hóa DNNN", có gì gọi là sự kỳ thị giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân không?
Ðể trả lời câu hỏi này, cần xem xét trên hai mặt:
Một là, trong chính sách tổng thể xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ trương nhất quán của ta là ủng hộ và tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế, bao gồm cả thành phần kinh tế tư bản tư nhân phát triển, mặc dù trong nền kinh tế nhiều thành phần đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Hai là, khi nói cổ phần hóa DNNN thì chủ thể của việc cổ phần hóa ấy là DNNN. Ở đây, không trực tiếp đề cập tới doanh nghiệp tư nhân. Và cổ phần hóa các DNNN cũng chỉ là một bộ phận của giải pháp tổng thể "sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN". Trong giải pháp tổng thể ấy, có những nội dung như sau: a) Ðịnh hướng, sắp xếp, phát triển DNNN hoạt động kinh doanh và hoạt động công ích. b) Sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách đối với DNNN. c) Ðổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổng công ty nhà nước. d) Ðẩy mạnh cổ phần hóa DNNN. e) Và cuối cùng là thực hiện giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê, sáp nhập, giải thể, phá sản DNNN, nói cách khác là chuyển sở hữu.
Về chủ trương cổ phần hóa DNNN, chúng ta không chỉ cho phép mà còn khuyến khích tư nhân tham gia mua cổ phiếu của DNNN và trở thành những cổ đông bình đẳng trong DNNN đã cổ phần hóa, thì sao gọi là kỳ thị được?
Cũng cần nói thêm rằng, trước đây việc cổ phần hóa thường được tiến hành ở những DNNN làm ăn thua lỗ hay kém hiệu quả, do đó ít có sự hấp dẫn, nhưng đến Hội nghị T.Ư 3 (khóa IX) thì đã xác định rõ như sau: "Ðối tượng cổ phần hóa là các DNNN hiện có mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn, không phụ thuộc vào thực trạng kết quả sản xuất, kinh doanh". Ðến Hội nghị T.Ư 9 (khóa IX) vừa qua thì quan điểm về cổ phần hóa đặc biệt thông thoáng: a) Kiên quyết đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa và mở rộng các DNNN cần cổ phần hóa, kể cả những doanh nghiệp lớn và một số tổng công ty kinh doanh có hiệu quả. b) Gắn cổ phần hóa với việc phát hành cổ phiếu và tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán. c) Giá trị DNNN được cổ phần hóa, trong đó có giá trị quyền sử dụng đất về nguyên tắc phải do thị trường quyết định.
d) Việc mua bán cổ phiếu phải công khai trên thị trường, khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp.
Ngoài nội dung cổ phần hóa nêu trên, Hội nghị T.Ư 9 cũng chủ trương triển khai mạnh việc bán, khoán, cho thuê những DNNN có quy mô nhỏ ở những ngành lĩnh vực không then chốt.
Tóm lại, quá trình cổ phần hóa DNNN hiện nay đã chuyển sang một giai đoạn nâng cao về chất lượng trên ba mặt sau:
Một là, từ cổ phần hóa chủ yếu là DNNN làm ăn thua lỗ sang cổ phần hóa cả những doanh nghiệp lớn, các tổng công ty, các doanh nghiệp làm ăn có lãi.
Hai là, từ cổ phần hóa DNNN trong một số lĩnh vực rất hạn chế sang cổ phần hóa các DN ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa.
Ba là, từ hình thức CPH nội bộ là chính chuyển sang bán cổ phần ra bên ngoài, kể cả cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Thực tế CPH DNNN mấy năm qua có làm cho vốn Nhà nước trong DN cổ phần suy yếu đi không? Hay ngược lại?
Về lý thuyết, ngoại trừ việc định giá tài sản của những DN cổ phần hóa quá thấp, những hành vi khuất tất hay sai phạm trong CPH, việc lạm dụng quyền hành của một số cán bộ để thâu tóm về mình các cổ phần ưu đãi bán cho công nhân, thì nói chung, việc CPH không làm cho vốn Nhà nước suy giảm đi mà ngược lại tăng cường thêm. Bởi: a) Vốn Nhà nước không thu hẹp lại hoặc mất đi ở những DN chỉ phát hành thêm cổ phiếu hoặc kêu gọi vốn đầu tư thêm. b) Vốn Nhà nước ở những DNNN bán cổ phần cho bên ngoài tuy có giảm đi, nhưng phần vốn đó không mất, bởi bằng việc bán cổ phần, Nhà nước thu hồi lại vốn của mình để sử dụng cho việc phát triển của bản thân DN CPH hoặc đầu tư vào một DN mới. c) Vốn Nhà nước ở những DN bán khoán, cho thuê hay chuyển quyền sở hữu vẫn là vốn của Nhà nước để dùng cho việc phát triển sản xuất, kinh doanh nói chung. d) Vốn Nhà nước ở từng DN cụ thể khi CPH có thể giảm đi (về số lượng) nhưng do việc chuyển phần vốn đó cho việc phát triển bản thân DN CPH, hay đầu tư vào các DN khác, cho nên nhìn tổng thể các DNNN thì phần vốn đó không giảm. Nhưng dù giảm hay không giảm vốn Nhà nước trong DN CPH, chất lượng và hiệu quả sử dụng đồng vốn của Nhà nước sau khi CPH sẽ tăng thêm.
Trên thực tế, qua khảo sát và báo cáo của các ngành và địa phương mà ta nắm được thì thấy hầu hết các DNNN sau CPH đều hoạt động có hiệu quả: doanh thu tăng, vốn điều lệ tăng, nộp ngân sách tăng, lợi nhuận tăng, phần vốn Nhà nước có tại DNCP cũng tăng nhờ cổ tức được chia đầu tư trở lại.
CÓ thể kết luận rằng, về mặt nhận thức và tư tưởng, không có gì phải e ngại về việc CPH DNNN có dẫn đến tư nhân hóa DNNN hay không. Vấn đề là phải thực hiện đúng các chủ trương và chính sách của Ðảng và Nhà nước về việc CPH các DNNN với tinh thần đẩy nhanh tiến độ và triển khai mạnh hơn nữa.