Theo Tổng cục Thống kê, tính đến ngày 1-1-2016, lực lượng LĐ từ 15 tuổi trở lên của Việt Nam là 54,61 triệu người, trong đó, nam giới chiếm 51,7%, nữ giới chiếm 48,3%. Tỷ lệ LĐ qua đào tạo được cấp chứng chỉ là 21,9%. Việt Nam hiện có hơn 400.000 LĐ đang làm việc ở nước ngoài, với hơn 30 nhóm ngành, nghề khác nhau. Năm 2015, cả nước đã có 115.980 LĐ đi làm việc ở nước ngoài, tăng hơn 15% so kế hoạch và là năm thứ hai liên tiếp Việt Nam đưa được hơn 100 nghìn LĐ đi làm việc ở nước ngoài. Trong hai tháng đầu năm 2016, tổng số LĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 15.605 LĐ, đạt 15,61% kế hoạch năm và bằng 90,69% so cùng kỳ năm 2015. Thị trường XKLĐ chủ yếu tập trung ở Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Hàn Quốc, Ả rập Xê út, Ma-cao... Riêng Thái-lan đã cho phép hợp pháp hóa người LĐ Việt Nam làm việc trong bốn ngành, nghề, là điểm nhấn mới tích cực trên thị trường này.
Năm 2016 và tiếp theo, thị trường XKLĐ của Việt Nam hứa hẹn sẽ tiếp tục tăng từ những hiệp định hợp tác LĐ được ký kết trong năm 2015. Những yêu cầu, cơ hội và thách thức mới cho đào tạo và XKLĐ ngày càng mở ra, nhằm kết nối chuỗi mạng nội khối trong các Hiệp định Thương mại tự do (FTA); tám ngành nghề đã được thỏa thuận công nhận tay nghề tương đương và trong 12 lĩnh vực ưu tiên đẩy nhanh liên kết nội khối của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Nhiều nước đã nâng mức lương cơ bản và mở rộng danh mục những ngành nghề tuyển dụng LĐ nước ngoài; cam kết thực thi các quyền cơ bản của người LĐ, bảo đảm khả năng tiếp cận với hệ thống thủ tục hành chính và tư pháp công bằng, không thiên vị và minh bạch; xây dựng cơ chế hợp tác và đối thoại giải quyết nhanh mọi vấn đề về LĐ, bao gồm cả các cơ hội để các nhà đầu tư xác định phạm vi hợp tác và tham gia vào các hoạt động hợp tác nếu thấy phù hợp và cùng thống nhất; đồng thời, đòi hỏi chất lượng lao động nhập khẩu ngày càng cao, đa dạng hơn…
Tất cả đã, đang và sẽ tiếp tục khiến người LĐ vừa có cơ hội và tăng áp lực cạnh tranh khi dịch chuyển chỗ làm, cải thiện thu nhập trong các nước thành viên AEC và các FTA khác theo quy định; vừa chịu áp lực giữ việc làm trước làn sóng nhập khẩu LĐ nước ngoài ngay trên “sân nhà”. Các doanh nghiệp có cơ hội thu hút nhân lực cao từ các nước khác, nhưng cũng chịu áp lực từ hoạt động “săn đầu người” của các công ty nhân lực hay tập đoàn lớn trong khu vực và thế giới.
Để đáp ứng yêu cầu, khai thác cơ hội và vượt qua những thách thức mới trên thị trường XKLĐ, các cơ quan chức năng cần tăng cường phối hợp các trường và các doanh nghiệp trong phát triển các lớp chuyên đào tạo cho XKLĐ, có cơ sở vật chất, yêu cầu, nội dung, lộ trình, phương thức, chế độ và kinh phí tham gia đào tạo và XKLĐ theo chương trình thống nhất, phù hợp với nhu cầu thị trường; đề cao đào tạo ngoại ngữ, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động, văn hóa dân tộc và luật pháp nước sở tại, cũng như giáo dục tinh thần tự tôn, đoàn kết, thể hiện bản lĩnh và văn hóa quốc gia. Đồng thời, tăng cường rà soát, chấn chỉnh và xử phạt những hành vi sai phạm trong tuyển chọn, đào tạo, thu tiền và quản lý lao động và XKLĐ…
Việt Nam đang trong thời kỳ dân số vàng. Mỗi năm có hàng trăm nghìn người tốt nghiệp đại học, cao đẳng chờ việc và hàng triệu LĐ mới tham gia thị trường và có nhu cầu được đào tạo nghề. Trong khi đó, thị trường LĐ ngày càng có tính mở, quốc tế hóa và cạnh tranh hơn; lợi thế và hàm lượng về chi phí nhân công rẻ đang giảm dần, áp lực nâng cao năng suất, đổi mới kỹ thuật và sức cạnh tranh ngày càng tăng... Theo đó, phát triển thị trường XKLĐ có tổ chức, chất lượng cao đang và sẽ ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc và công cụ đắc lực để hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng, lực lượng LĐ Việt Nam nói chung.