Ðược thành lập và đi vào hoạt động từ cuối năm 1975, với tên gọi ban đầu là Tổng công ty lúa gạo miền nam, sau nhiều lần thay đổi tên gọi và cơ cấu tổ chức, đến nay Tổng công ty Lương thực miền nam (VINAFOOD II) đã ổn định tổ chức và hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Giai đoạn khó khăn nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh của VINAFOOD II vào năm 1995 nhân tiếp nhận 31 đơn vị doanh nghiệp thành viên làm ăn thua lỗ từ các tỉnh về, ba năm sau nhận thêm Công ty lương thực TP Hồ Chí Minh đang nợ lớn khiến tổng số lỗ và công nợ lên đến cả nghìn tỷ đồng, bằng 76,94% vốn điều lệ của Tổng công ty. Khó khăn đến mức do vốn lưu động "âm" các doanh nghiệp thành viên muốn vay vốn ngân hàng, Tổng công ty phải đứng ra bảo lãnh hoặc vay hộ rồi chuyển cho các doanh nghiệp thành viên. Chưa nói đến các khó khăn khách quan, do thiên tai, hạn hán, bão lũ, lụt, sâu rầy, dịch cúm gia cầm thường xảy ra ở các địa phương gây nhiều bất lợi cho ngành kinh doanh lương thực. Ðáng chú ý là khủng hoảng tài chính, tiền tệ năm 2008 - 2009 tác động xấu đến sản xuất, kinh doanh trong nước và thị trường xuất khẩu gạo thế giới, khiến nhiều doanh nghiệp kinh doanh không có lãi.
Nhưng nói như tập thể những người phụ trách VINAFOOD II: Làm kinh doanh là chấp nhận cả may mắn lẫn rủi ro. Vấn đề là phải cố gắng chuyển thua lỗ thành kinh doanh có lãi. Trước hết nợ của các thành viên được khoanh lại, trong đó nhân sự ở các công ty thành viên được sắp xếp cho phù hợp với tình hình kinh doanh mới. Theo tinh thần "sẻ bùi chia ngọt", Tổng công ty phân chia lại thị trường, ưu tiên cho doanh nghiệp thua lỗ có thị trường giá ngon, nếu tiếp tục làm ăn thua lỗ chuyển địa bàn để doanh nghiệp khác "đứng" vào. Ðồng thời tìm nhà đối tác nước ngoài, bán nợ 27 triệu USD của Công ty lương thực TP Hồ Chí Minh. Thực hiện xuất nhập khẩu lương thực theo các phương thức trực tiếp, hoặc ủy thác như nghị định thư, trả nợ, thuận mua vừa bán, mua thấp bán cao, đấu thầu... tùy theo đối tượng khách hàng. Ðáng chú ý, trong hai năm 2008-2009, Tổng công ty kinh doanh gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế thế giới buộc ngân hàng các nước thắt chặt tín dụng dẫn đến việc các tập đoàn phân phối lương thực nước ngoài không mua dự trữ như các năm trước mà bán ra tới đâu, mua tới đó, đồng thời liên tục ép giá nhà sản xuất buộc nhà sản xuất phải dự trữ hàng hóa. Nhờ dự đoán trước tình hình xuất khẩu ngay từ những tháng đầu năm 2009, VINAFOOD II được sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công thương phối hợp với UBND các tỉnh có lượng lúa gạo hàng hóa lớn bàn biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu theo phương châm: tích cực xuất khẩu với giá hợp lý, nhằm tăng thu nhập của nông dân, bảo đảm an ninh lương thực, đồng thời giữ ổn định giá cả thị trường trong nước. Hiện một số giá gạo của nước ta bằng hoặc cao hơn giá gạo xuất khẩu ở các nước. Với cương vị là một Tổng công ty kinh doanh lúa gạo lớn nhất nước, VINAFOOD II phối hợp cùng Hiệp hội lương thực Việt Nam, các doanh nghiệp thành viên cùng liên kết thống nhất giá bán ra cho đối tác nước ngoài, kiên quyết xử lý doanh nghiệp bán dưới quyết định bảo vệ lợi ích doanh nghiệp trong cả nước vì lợi ích quốc gia. Ngay trong các phiên đấu thầu gần đây ở các thị trường Philippines, Malaysia, Indonesia, các doanh nghiệp thành viên bước đầu phối hợp chặt trong việc bỏ giá thầu sát với giá thị trường lúa gạo thế giới. Ngoài việc xuất khẩu gạo chiếm 50-60% lượng gạo xuất khẩu trong cả nước, hằng năm, Tổng công ty luôn dự trữ từ năm trăm nghìn tấn đến một triệu tấn gạo sẵn sàng bình ổn giá cả thị trường trong nước cũng như chủ động đủ lương thực cho xuất khẩu (chưa nói đến 1,1 triệu tấn gạo dự trữ trong dân).
Bằng các phương thức kinh doanh nêu trên, trong ba năm (2003 -2006), Tổng công ty xử lý bù hết khoản lỗ và công nợ 968 tỷ đồng không chỉ khôi phục được vốn sản xuất, kinh doanh mà còn bổ sung tăng vốn từ 1.073 tỷ đồng lên 1.258 tỷ đồng, riêng từ năm 2005 đến 2006, tự bổ sung nguồn vốn từ hiệu quả sản xuất, kinh doanh lên 1.338 tỷ đồng. Ðến cuối năm 2008, tổng vốn chủ sở hữu đã nâng lên 2.597 tỷ đồng.
Cùng với kinh doanh lúa gạo, Tổng công ty chú ý phát triển chế biến lương thực, thực phẩm, công nghệ phẩm như bột mì, mì ăn liền, miến, cháo, mì sợi, mì nui, bánh tráng xuất khẩu, bánh mì, bánh kẹo các loại và nhiều loại gia vị gồm ớt, tương ớt, hạt tiêu phục vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu đạt giá trị kim ngạch vài trăm nghìn USD. Trong đó hai nhà máy xay xát lúa mì Bình Ðông, Bình Tây có công suất 1.100 tấn bột mì/ngày với thương hiệu Thuyền buồm, Cải xanh, Thiên nga được thị trường thành phố Hồ Chí Minh ưa chuộng. Các nhà máy sản xuất mì ăn liền công nghệ Nhật Bản, công suất 40.000 tấn sản phẩm/năm. Ba nhà máy thủy sản đông lạnh tại các tỉnh Tiền Giang, Ðồng Tháp và Trà Vinh công suất 36.000 tấn/năm đã xuất khẩu sang Mỹ, Nhật Bản, EU rồi nhà máy chế biến cá cơm tại Kiên Giang cùng năm nhà máy thức ăn thủy sản với tổng công suất 250.000 tấn/năm.
Từ cuối năm 2008 đến nay, nhằm góp phần tham gia bình ổn thị trường tiêu thụ trong nước, VINAFOOD II mở 130 cửa hàng tiện ích bán lẻ, bán 20.000 mặt hàng chủ yếu là lương thực, thực phẩm từ Ðà Nẵng đến Cà Mau với thương hiệu FOOCOMART, trong đó riêng TP Hồ Chí Minh là 60 cửa hàng. Những cửa hàng Fooco Mart cùng với hệ thống siêu thị Coopmart đang từng bước thể hiện vai trò của thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, góp phần dập tắt nhiều cơn sốt giá gạo, thịt, công nghệ phẩm ở TP Hồ Chí Minh.
Ðược giao nhiệm vụ kinh doanh là chính, nhưng VINAFOOD II cũng hết sức quan tâm xây dựng vùng nguyên liệu lúa gạo, bao tiêu sản phẩm, cố gắng thực hiện liên kết bốn nhà để không ngừng nâng cao chất lượng lương thực phù hợp nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng và thị trường xuất khẩu. Bước đầu phối hợp Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh vùng lúa chuyên canh nghiên cứu và tạo ra giống mới phù hợp thổ nhưỡng đồng bằng sông Cửu Long. Tổ chức hơn 300 điểm mua cố định và lưu động đều khắp ở các vùng lúa trọng điểm cùng các thương lái mua hết, mua kịp thời, mua với giá sàn trở lên, bảo đảm có lợi cho người nông dân, tích cực đẩy mạnh mua ngay từ đầu vụ thu hoạch. Trong đó quý II và quý III năm 2009 mua vào hơn 900.000 tấn gạo tồn đọng trong dân ngoài kế hoạch dự trữ cho lưu thông và xuất khẩu không chờ có hợp đồng mới lo mua, đã góp phần giữ được giá lúa có lợi cho nông dân, nhưng vẫn giữ ổn định giá cho người tiêu dùng, sẵn sàng ngăn chặn các biến động giá gạo ở thị trường tự do.
Việc sản xuất, gặt đập ở vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay chủ yếu dựa vào lao động thủ công khiến tỷ lệ thất thoát ở khâu này từ 15-20%. Ngay cả khâu chế biến là khâu quan trọng nhất thì công nghệ cũng quá lạc hậu. Hầu hết các doanh nghiệp chế biến gạo đều không trang bị máy sấy lúa mà chỉ trang bị một số máy sấy gạo sau khi chế biến. Vì vậy nhiều năm qua, Tổng công ty đã dành 1.238 tỷ đồng đầu tư xây dựng và đổi mới công nghệ trong sản xuất chế biến, như nhập máy lau gạo, máy đánh bóng, phân loại gạo, máy tách mầu nhằm tăng giá trị hạt gạo xuất khẩu. Ðã hoàn thành và đưa vào sử dụng ba chợ trung tâm nông sản ở ba tỉnh (Long An, Tiền Giang, Ðồng Tháp) có diện tích từ 3-7 ha để tiêu thụ lúa gạo. Năm 2010, dành 900 tỷ đồng xây dựng các cụm kho trung tâm lớn như Trà Nóc, Cần Thơ; Cao Lãnh, Ðồng Tháp; Tân Hiệp, Vĩnh Thắng, Kiên Giang; Vĩnh Hưng, Long An; Việt Nguyên, Tiền Giang; Phú Hòa, Châu Phú, An Giang. Tập trung chỉ đạo và lập đề án Quy hoạch đầu tư hệ thống kho chứa lương thực với tích lượng một triệu tấn kho tại đồng bằng sông Cửu Long bảo đảm thu mua hết lúa, gạo hàng hóa cho nông dân, chấm dứt tình trạng "được mùa rớt giá".
Cùng với việc kinh doanh, Tổng công ty Lương thực miền nam nhiều năm nay hết sức quan tâm công tác từ thiện xã hội ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long với số tiền ủng hộ hơn 20 tỷ đồng, như ủng hộ Quỹ Vì người nghèo ở đồng bằng sông Cửu Long, nuôi thương binh nặng, người già neo đơn, xây nhà tình nghĩa, ủng hộ bà con bị lũ lụt. Năm 2009, Tổng công ty nhận giúp đỡ huyện nghèo Trà Bồng, Quảng Ngãi thoát nghèo, đến nay đã xây hai trường học trị giá một tỷ đồng. Dự kiến để giúp huyện Trà Bồng thoát nghèo hoàn toàn, Tổng công ty cam kết ủng hộ 40 tỷ đồng giúp bà con trồng lúa, trồng các cây màu, phát triển làng nghề sao cho người dân có việc làm ổn định.
Xây dựng và phát triển Tổng công ty Lương thực miền nam hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con với mục tiêu giữ vai trò chủ đạo của doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh lương thực, tiêu thụ hết lúa, gạo hàng hóa trong nông dân, ổn định lương thực cả nước, ổn định giá lương thực và bảo đảm an ninh lương thực tiến tới xây dựng Tổng công ty trở thành đơn vị kinh doanh lương thực, thực phẩm hàng đầu của Việt Nam, trong đó lấy lúa gạo là hoạt động kinh doanh chính, với mục tiêu đưa hoạt động xuất khẩu gạo của Tổng công ty chiếm tỷ trọng từ 55 đến 60% trên tổng lương thực xuất khẩu gạo của cả nước. Nâng công suất Nhà máy sản xuất mì ăn liền Colusa - Milikét, Safoco, Thuận Bình lên 29.000 tấn/năm. Công ty sản xuất bánh kẹo Lubico 5.000 tấn/năm. Công ty sản xuất nước tương gia vị NOSAFOOD công suất 6.000 tấn/năm. Công ty sản xuất bột mì Bình Ðông, Bình An, Non Nước công suất 336.000 tấn/năm. Xây dựng nhà máy chế biến thức ăn thủy sản 237.000 tấn, nhà máy chế biến thủy hải sản đông lạnh xuất khẩu 34.600 tấn, nâng diện tích nuôi trồng thủy sản lên 440 ha. Phấn đấu tăng doanh số năm 2010 từ 35.000 đến 38.000 tỷ đồng/năm. Ðầu tư xây dựng, nâng cấp cảng Trà Nóc nâng công suất bốc dỡ từ 400.000 tấn đến năm 2010 là một triệu tấn/năm. Ðầu tư cho nuôi cá sạch quy mô lớn nhằm khép kín từ khâu nuôi trồng đến chế biến xuất khẩu.
ÐỂ đạt mục tiêu trên, Tổng công ty đang thực hiện nhiều giải pháp như tái cấu trúc doanh nghiệp, đào tạo lại nguồn nhân lực, trong đó chú ý phát triển nguồn nhân lực giỏi nghiệp vụ, ngoại ngữ cũng như nâng cao năng lực tổ chức, xây dựng và mở rộng thị trường xuất khẩu ổn định đầu tư, xây dựng các cụm kho lên ba triệu tấn, nâng công suất thiết bị chế biến gạo từ 2,8 triệu lên 3,5 triệu và 4 triệu tấn, trong đó gạo cao cấp chiếm 4% trong năm 2010. Tăng cường nâng cao chất lượng gạo bằng việc phối hợp chặt chẽ bốn nhà: Doanh nghiệp - Nhà khoa học - Nhà nông - Nhà quản lý nhằm nâng cao giá trị xuất khẩu cũng như bình ổn thị trường nội địa.
Trương Thanh Phong
Tổng Giám đốc Tổng công ty Lương thực miền nam
| Các thành tích được ghi nhận Các danh hiệu được phong tặng - Năm 1990 nhận Huân chương Lao động hạng ba - Năm 1991 nhận Cờ thi đua của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Năm 1992 nhận Cờ thi đua của Chính phủ - Năm 1993 nhận Huân chương Lao động hạng nhất - Năm 1994 nhận Cờ thi đua của Chính phủ - Năm 1995 nhận Cờ thi đua của Chính phủ - Năm 1996 nhận Cờ thi đua của Chính phủ - Năm 1997 nhận Cờ thi đua của Chính phủ - Năm 1999 nhận Huân chương Ðộc lập hạng ba - Năm 2000 Bằng khen của Bộ Thương mại - Năm 2002 Bằng khen của Bộ Thương mại - Năm 2004 Bằng khen của Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. - Năm 2005 Cờ thi đua của Chính phủ - Năm 2000 - 2005: Giải thưởng Doanh nghiệp hàng đầu trong xuất khẩu gạo do Thời báo kinh tế Việt Nam bình chọn. - Năm 2006 Cờ thi đua của Chính phủ - Bằng khen Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội - Chứng nhận Doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu, xuất sắc do Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế và Báo Thương mại. - Năm 2007: Bằng khen Bộ Công thương, Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín. - Năm 2008: Cờ thi đua của Chính phủ - Huân chương Ðộc lập hạng nhì Khen thưởng của các đơn vị thuộc Tổng công ty từ năm 1995 đến 2007 - Hai đơn vị và ba cá nhân Anh hùng lao động - 21 Chiến sĩ thi đua toàn quốc - Hai Huân chương Ðộc lập - 172 Huân chương Lao động các hạng. |