Vì quan niệm tự thân vận động, nhà sư ấy đã biến mảnh đất sình lầy, hoang vu ở ngoại ô thành phố Đà Lạt thành môi trường sống tuyệt vời để bảo tồn những giống lan quý sắp tuyệt chủng và mỗi năm số tiền bán lan thu về đã lên đến con số bạc tỷ.
Cầu dao điện được bật lên, chiếc xe cải tiến chở phân bón chạy tự động trên hai đường ray nối dài từ đỉnh đồi xuống dưới trang trại khoảng 120 mét rồi dừng hẳn. Sau khi những người thợ làm vườn lấy xong số phân bón, chiếc xe lại tự động chạy ngược lên đồi. Đó là hình ảnh tại “vương quốc hoa lan”, cơ sở 2 của Công ty TNHH Thanh Quang nằm bên mé rừng Tuyền Lâm, thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng). Đây chỉ mới bắt đầu câu chuyện về một nhà sư, có lẽ là duy nhất tại Việt Nam, biết vận dụng ý tưởng và sự sáng tạo để kinh doanh... hoa lan.
Đưa đạo vào đời
Pháp hiệu của ông là Thượng tọa Thích Huệ Đăng. Khi nghe ông quyết tâm chuyển đổi cơ sở trồng hoa lan Thanh Quang thành công ty vào cuối năm 2004, không ít người “xì xào” tu hành gì mà còn... ham tiền! Vì không hiểu, họ cho rằng nhà sư còn luyến tiếc chuyện đời nên mới lao vào việc kinh doanh, thời gian đâu còn dành cho Phật pháp. Bỏ ngoài tai mọi lời đàm tiếu, ông và đệ tử hằng ngày vẫn chăm chỉ vun xới cho mảnh đất này màu mỡ hơn như đã từng làm suốt gần hai mươi năm qua.
Năm 1985, với một túi nải trên vai, ông bái biệt thầy tổ tại ngôi chùa cổ kính nằm ở ngoại ô thành phố Biên Hòa (Đồng Nai), để lên vùng cao Lâm Đồng thực hiện ước mơ “đưa đạo vào đời”. Năm đó ông đã 45 tuổi. Cái tuổi chín chắn trong sự trải nghiệm. Đến năm 1988, ông bắt đầu mò mẫm vào nghề trồng địa lan khi mà những người trồng lan ở xứ sở này hầu hết đã bỏ nghề vì thị trường xuất khẩu hoa sang Liên Xô và các nước Đông Âu không còn nữa.
Cho đến giai đoạn năm 1994-1997, khi ông tham dự lớp đào tạo Giảng sư khóa Thiện Hoa do ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức tại TP Hồ Chí Minh, bước ngoặt mới được mở ra từ đây. Thời gian này, buổi sáng ông lên giảng đường Phật học, buổi chiều đến trường Đại học Nông Lâm học dự thính phương pháp cấy mô hoa lan. Học tới đâu ông về Đà Lạt thực nghiệm tới đó. Có gì khúc mắc ông lại gọi điện về trường trao đổi. Thượng tọa Huệ Đăng cho biết, trồng địa lan cần phải kinh qua việc chăm sóc cây vào các ngày “trái gió, trở trời”. Lan phụ thuộc rất lớn vào thời tiết lạnh, nóng và cách bón phân. Kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố này, lan sẽ ra hoa vào đúng dịp Tết, đạt tỷ lệ 80%.
Chuyện làm ăn của nhà sư tiến triển khá thuận lợi. Cơ sở đầu tiên của Công ty Thanh Quang có diện tích 5.000 m2 nằm gần bến xe khách tỉnh Lâm Đồng, ngoài diện tích chính trồng địa lan, cơ sở còn trồng xen kẽ cây hồng môn. “Hồng môn thu hoạch hoa vào dịp rằm và đầu tháng Âm lịch cũng kiếm được gần một triệu đồng, đủ chi phí phân bón và tiền rau đậu”, Thượng tọa Huệ Đăng cho biết đó là cách lấy ngắn nuôi dài. Và cũng nhờ nguồn thu nhập này mà cuộc sống của mấy thầy trò không bị lệ thuộc vào tiền cúng dường của tín đồ Phật tử.
Không chỉ dừng lại ở khu trồng lan này, ông vào tận mé rừng thuộc khu vực hồ Tuyền Lâm mua đất tạo lập một “vương quốc hoa lan” rộng một ha. Ông nhập những giống lan mới từ Nhật Bản, Australia về khảo nghiệm và nhân giống bán cho các cơ sở trồng lan khác ở thành phố Đà Lạt. Các giống lan này được chính tay ông cấy mô từ năm 2001 đến nay được khoảng 60 nghìn chậu trong đó có chậu đã ra hoa “bói”, phần lớn là các loại lan quý. Ở vương quốc lan này, phải khó nhọc lắm thầy trò ông mới tạo được một cơ ngơi có chiều ngang 50 mét, chiều dài hơn 200 mét là nhà kính, lưới che và hệ thống tưới phun tự động. Nhờ không khí lạnh từ hồ Tuyền Lâm thổi vào nên cả khu vườn luôn có nhiệt độ ổn định từ 18-22oC, rất thích hợp cho địa lan phát triển. Và đây chính là “bí quyết” thành công của khu vườn này. “Nếu công việc diễn tiến thuận lợi, đến Tết năm 2007, tôi sẽ thu hoạch lứa đầu tiên, lợi nhuận khoảng hai tỷ đồng. Sang năm 2008, tôi sẽ dành 5.000-10 nghìn chậu tham gia Festival hoa Đà Lạt, xuất khẩu khoảng 300 nghìn hoa lan cắt cành, chắc sẽ thu về chừng một tỷ đồng”, Thượng tọa Huệ Đăng lạc quan về tương lai.
Sáng tạo để bảo vệ rừng
Nhìn vườn địa lan đang phát triển xanh tốt, rất ít nấm bệnh, giới chơi lan chuyên nghiệp không thể nghĩ nó được trồng bằng vỏ hạt cà phê. Thành công bất ngờ nhất trong quá trình trồng lan của ông là việc ứng dụng vỏ hạt cà phê làm phân bón thay cho cây dớn. Nếu sử dụng cây dớn theo phương thức lâu nay, tức phải chặt cây rừng làm phân, sẽ vi phạm luật pháp. Còn dùng vỏ hạt cà phê giảm được chi phí đầu tư rất nhiều. “Suốt mười hai năm nghiên cứu tôi mới thành công. Cái khó là phải làm sao tẩy được chất chát, chất đắng của vỏ cà phê để rễ phong lan chịu được và có khả năng phát triển. Nếu tất cả những người trồng lan đều sử dụng vỏ cà phê thì rừng sẽ không bị đốn chặt bừa bãi nữa”, ông nói.
Theo đánh giá của ông Trần Đức Tấn, Chủ tịch Hội Hoa lan thành phố Đà Lạt, thành công của nhà sư có được như ngày hôm nay là nhờ vào sự nghiên cứu cần mẫn. Chuyện 60 nghìn chậu hoa lan của Công ty Thanh Quang vẫn còn nguyên vẹn, trong khi nhiều trại hoa lan khác thì bị tàn phá bởi sâu bệnh là một minh chứng cụ thể. Ông Tấn còn nhấn mạnh rằng những thí nghiệm thành công của nhà sư đã giúp ngăn chặn sự tuyệt chủng của nhiều giống lan rừng quý hiếm tại Việt Nam, và “vương quốc hoa lan” nay đã trở thành nơi cung cấp giống đáng tin cậy.
Công ty Thanh Quang cam kết, bắt đầu từ cuối năm 2006, lợi nhuận từ bán hoa lan hàng năm sẽ trích ra 38% để làm công tác từ thiện xã hội và in ấn kinh sách tặng cho các trường Phật học trên cả nước. “Quan điểm của công ty là không vay tiền ngân hàng để làm vốn, mà phải tự thân vận động qua việc bán hoa “bói” và hồng môn để có tiền xoay sở tái đầu tư”, Giám đốc công ty-Thượng tọa Huệ Đăng, và anh Nguyễn Ngọc Long, Phó giám đốc, xác định.
Hai năm gần đây, vào mỗi dịp Tết Nguyên đán, tại Công viên 23-9, quận 1, TP Hồ Chí Minh, người ta lại bắt gặp những nhà sư tham gia hội hoa xuân. Một chậu lan bảy cành có giá từ 700 nghìn đồng đến 1,2 triệu đồng. Ấy thế mà gian hàng của Công ty Thanh Quang lại có tới 500 chậu. Có người bình luận “thầy tu cũng biết kinh doanh đấy chứ”. Nhưng có ai biết, sau khi trừ hết chi phí, ông dùng số tiền còn dư để in ấn kinh sách tặng cho những ngôi chùa ở vùng sâu, vùng xa, và những tăng ni trẻ đang học tập tại các trường Phật học trên cả nước.Và cứ thế, mười hai tác phẩm luận giảng về các bộ kinh Phật giáo Đại thừa do chính nhà sư là tác giả đã lần lượt ra đời. Đó là lý do tại sao ông làm kinh doanh.