* Chuyện lạ của những người anh hùng - Kỳ 3
* Chuyện lạ của những người anh hùng - Kỳ 2
* Chuyện lạ của những người anh hùng - Kỳ 1
* Chuyện lạ của những người anh hùng
12-5-1967
Sáng, Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân nhận được tin trinh sát có ba tốp máy bay bay từ Lào qua biên giới Lào - Việt đi vào hướng Ba Vì - Hà Tây (cũ). Lần này chúng đi gồm 12 chiếc toàn loại tiêm kích F4 và F105 mục đích “tìm diệt” MiG-17, sau nhiều trận thất bại nặng nề.
15 giờ 23phút, địch đã tới gần. Toàn Biên đội 4 MiG- 17 mang theo 160 viên 23 ly và 40 viên 37 ly vào báo động cấp Một và xuất kích sau vài phút.
Vừa lên, Số Ba Ngô Đức Mai phát hiện 4 chiếc F4 bay độ cao 1.000 - 1.500 mét, cùng lúc ấy số Một - Biên đội trưởng Cao Thanh Tịnh phát hiện thêm bốn chiếc F105 từ phía sông Đà đi vào giữa Ba Vì và Tản Viên.
Ngay lập tức số Một kéo lên bám bốn chiếc, bắn liền hai loạt đạn vào F105 trong cự ly 600 mét, độ cao 2.500 mét. Sau loạt đạn, anh thấy thân máy bay đã bốc khói, chúng vội vã vứt bom để thoát thân. Số Một vòng qua núi Viên Nam thì gặp số Ba Ngô Đức Mai và số Bốn Hoàng Văn Kỷ đang quần nhau với tốp F4 của Mỹ phía đầu đông sân bay, số Một bám luôn một chiếc F4 bắn hai loạt đạn ở cự ly 800 mét, độ cao 1.500 mét. Anh vừa bắn xong quay sang đã thấy hai chiếc F4 bám theo mình phóng tên lửa. Số 1 vội vã hô: “Tất cả cơ động!”. Toàn Biên đội nghe lệnh Biên đội trưởng tản hết.
Số Ba Ngô Đức Mai, khi phát hiện có F4 thì lao vào rồi xả luôn hai loạt đạn ở cự ly gần 300 mét. Không kịp tránh loạt đạn nhanh như chớp của anh, máy bay địch bốc cháy và rơi ngay tại chỗ.
Cách sân bay chỉ 2 ki-lô-mét, anh còn thấy phi công địch nhảy dù ra. Sau này được biết phi công nhảy dù hôm ấy chính là Norman Gadice (ảnh bên ) - Đại tá, Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ nhận nhiệm vụ chỉ huy 12 chiếc máy bay thực hiện chiến dịch tiêu diệt toàn bộ MiG-17 Việt Nam do Tổng thống Mỹ ra lệnh.
Số Bốn Hoàng Văn Kỷ, phát hiện F105 ở độ cao 3.000 mét. Anh định kéo lên đánh F105. Nhưng lại thấy số Ba đang xuống đánh F4, nên đã lao xuống một chiếc F4 gần tầm bắn của mình và xả 4 loạt đạn ở cự ly 400 mét, độ cao 1.500 mét khiến cho máy bay địch lảo đảo bay về phía núi Viên Nam rồi rơi xuống đó.
3- 1- 1968
Sau buổi sáng quần nhau với địch, đến buổi chiều cả đơn vị chỉ còn đúng một chiếc MiG 21 có thể xuất kích. Tin trinh sát báo về, địch có 36 chiếc gồm 32 thần sấm F105 và 4 con ma F4 theo sau hỗ trợ. Trong tình thế bắt buộc, chiếc MiG 21 duy nhất phải vào vị trí chiến đấu.
Sở Chỉ huy Binh chủng dẫn đường cho Chúc (phi công MiG 21) đến Hòa Bình và để Trung đoàn dẫn tiếp. Phát hiện ra 8 Biên đội gồm 36 chiếc máy bay của Không quân Mỹ đang dần tiến vào theo hàng dọc, MiG-21 của ta bám luôn kiểu ”đút đít”. Cách địch khoảng 12 ki-lô-mét thì ra- đa mặt đất phát hiện F4 quay vòng trở lại đón đầu MiG 21.
Sau hai lần bắn trượt, Chúc tiếp cận lần thứ ba lúc này và không uổng công. Đến vùng trời Tuyên Quang, Chúc phóng tên lửa bắn trúng một chiếc F105, khiến cho tên giặc lái của chiếc máy bay này phải nhảy dù, 35 chiếc máy bay còn lại hốt hoảng (một vài chiếc trong số đó vội vàng trút bom) quay đầu bỏ chạy. Giặc lái nhảy dù lại là Đại tá Paul (Anh hùng phi công Mỹ, và là phi công bay giỏi số 1 của Không quân Mỹ), chỉ huy trực tiếp 8 Biên đội hôm đó.
20- 11- 1971 (*)
Thêm hai chiếc MiG- 21 được gửi đến Vinh, và máy bay phản lực khác tới Anh Sơn. 20 giờ cùng ngày, B-52 đã được phát hiện 60 ki-lô-mét về phía bắc của Xam Nua. Phi công Vũ Đình Rạng trở thành phi công máy bay chiến đấu đầu tiên của Không quân Việt Nam đánh chặn B-52.
Những nỗ lực bắn hạ B-52, cũng như quyết tâm ngày một tăng của quân đội Việt Nam đã nhắc nhỏ cho Tổng thống Richard Nixon như một cảnh báo, nếu như ông ta cho ném bom Hà Nội sẽ bị Không quân Việt Nam đánh trả một cách tương tự như vậy. Đó sẽ là mối đe dọa lớn khi máy bay Mỹ thâm nhập Không phận Bắc Việt Nam. Quả đúng không sai, ngày 18 tháng 12 năm 1972 Lê Thành Đô và Võ Sĩ Giáp đã bắn hạ hai chiếc F4D số hiệu 66-0241 và 65- 0799 của TRW.
Thời điểm này, những cuộc không chiến tại Bắc Việt Nam đã trở nên đầy kịch tính.
19- 4- 1972
Tất cả chỉ huy cũng như phi công trực chiến đều căng như dây đàn theo dõi diễn biến của Mỹ Ngụy từng phút, từng giờ. Hôm nay đơn vị được lệnh đánh tàu khu trục, một trận đánh lần đầu tiên được thực hiện.
16 giờ, biên đội Dỵ, Bảy B xuất kích. Đến 16 giờ 10 phút, ta phát hiện hai chiếc máy bay Mỹ ở độ cao 4.000 mét phía đông Vĩnh Linh vòng lên sân bay Đồng Hới, ta bám theo được 15 phút thì chúng mất hút.
Lê Xuân Dỵ, Nguyễn Văn Bảy B- hai phi công
đánh tàu khu trục HICH –BI ngày 19-4-1972.
Dỵ phát hiện hai tàu, cự ly 10-12 ki-lô-mét rồi vòng trái, điều khiển điểm ngắm bắn đúng giữa tàu hơi chếch về phía đầu một chút rồi cắt bom ở cự ly 750 mét. Bom nổ, anh thấy cột nước to vọt lên bên kia tàu.
Sau Dỵ, Nguyễn Văn Bảy B tách đội thả thùng dầu phụ, tăng tốc nhưng vẫn giữ độ cao 200 mét. Anh nhanh chóng điều khiển phần tử ngắm bắn. ở góc 90 độ, điểm ngắm vào 1/3 thân tàu phía sau. Anh làm động tác cắt bom cự ly 750 mét rồi kéo lên ngay. hai cột nước bên mé tàu tung lên, trắng xoá. Tiếp đất an toàn, Bảy B mới biết mình đánh trúng, làm bị thương tàu khu trục HICH –BI của Mỹ.
Trận thắng này, các anh Lê Xuân Dỵ, Nguyễn Văn Bảy B đã đánh dấu một sự kiện lịch sử mà từ trước tới giờ không một ai nghĩ đến là MiG – 17 có thể tiêu diệt được tàu chiến Mỹ.
(*)Theo bản dịch của Thuỷ Hướng Dương từ “MiG-21 units of the Vietnam war” (Những chiếc MiG-21 trong chiến tranh Việt Nam) của Istvan Toperczer.
| “Air force commanders picked verteran Mig- 21 pilot Dinh Ton to take part in the action, for they believed his vast experience would allow him to cope with the poor weather conditions that plagues the area. On one of his early flight his departed from Noi Bai at 1700 hours then recovered at Dong Hoi to refuel. Taking off again at 1900 hrs, he headed for Roure 9, but the Americans had by then become aware of his flight and pulled all of their AC-130s out of the area for good. VPAF missions against the B-52s met with less success in the first half of 1971, however, so several air force officers were sent to Mu Gia Pass to observe B-52 attack pattern both during the day and at night. In September of that year, radar units were sent to Ba Don, in Quang Binh province, and to Vinh Linh to track B-52 activities. On 4 October, commanders of 921st sent Dinh Ton to Đong Hoi, from where he would go “hunting” B-52s. The pilot took off after sunset, but the USAF crews were effectively jamming all communications in the area and he had to fly without ground radio contact. Dinh Ton soon found two b-52s in front of him, but judged the situation unsuitable for caombat and diverted to Tho Xuan. On 20 November, two more Mig- 21s were sent to Vinh, and another jet to Anh Son. At 2.000 hrs that same day, B-52s were reported 60 ki-lô-mét to the north of Xam Nua. Pilot Vu Dinh Rang was about to become the first fighter pilot within the VPAF to intercept a B-52s. At 2046 hrs he scrambled from Anh son airfield, and once aloft he was informed by groumd control that his three targets were 100 ki-lô-mét away. He dropped his fuel tank and climbed to 10,000 mét, and at a distance of 15 ki-lô-mét, Vu Dinh Rang switched on his radar and applied full throttle. At eight ki-lô-mét he fired an AAM at one of the B-52s, anf as he brock away from his attack, he spotted another bomber in front of him. Vu Dinh Rang launched his second missile, and at 2115 hrs he landed at Anh Son. There, he was told that the first b-52 had been damaged and had to make an emergency landing in Thailand. The attempt to shoot down B-52s, as well as an increased movement of North Vietnamese troops towards the south, prompted President Richard Nixon to warn Ha Noi that bombing strike would re-commence if such activities continued. As part of this threat, fighter-bombers started penetrating North Vietnamese airspace once again, and on 18 December the VPAF struck back then Le Thanh Do and Vo Si Giap downed F-4Ds 66-0241 and 65-0799 of the 432nd TRW. The air war in Vietnmese was about to reach a dramatic climax” |