Khoảng thời gian từ năm 1956 đến 1961, ông Ba Ðại được điều về Phụng Hiệp, Tích Thiện làm nhiệm vụ đào hầm, ông đào được 19 cái hầm và sửa lại hầm cũ cho cán bộ khu và tỉnh, đặc biệt là không có cái hầm nào bị địch phát hiện.
Ông kể: "Thuở đó, ngọn rạch Mương Ðiều, Tích Thiện nghèo lắm, con người và cây lúa ở đây cũng phải gồng mình chống lại mảnh đất khắc nghiệt để tồn tại. Tuổi thơ, cha tôi đặt tên là Lê Tấn Hưng, khi đi ở đợ cho địa chủ lại trùng tên với chủ, cho nên sợ không dám gọi Hưng, cha tôi gọi đại là Ðại rồi thành danh đến bây giờ".
Nhờ tinh nhanh, lại là một lực điền to khỏe, nên trong lao động ông được bà con yêu mến. Nói đến tra phảng thì người ta gọi ông là "Vua cầm phảng" vì ông biết tra gọng phảng khi phát rất êm, biết thế mài phảng, mài ngang "mép lụa" để phát cỏ năng, cỏ đế, cỏ sậy... mài xoay tròn "mép quắn" để phát lác, ốc, vỏ ốc... biết mở lối, đi rò vì hồi đó cỏ cao quá đầu người.
Tháng 8-1945, ông Ba Ðại 23 tuổi, trước cảnh áp bức, bóc lột của bọn cường hào, địa chủ, ông theo cha anh xung phong vào đội cảm tử quân, làm tiểu đội trưởng "tay cầm phảng" dẫn đầu đội cảm tử quân đi cướp chính quyền tay sai thực dân, đánh tan đồn bót ở Cầu Kè, đem về chiến công vang dội.
Nam Bộ kháng chiến bùng nổ, ông vào căn cứ hoạt động và nhiệm vụ được giao là bí mật đào hầm che giấu cách mạng trên địa bàn Vĩnh Long - Trà Vinh. Công việc này đối với ông rất phù hợp nhờ thông thạo địa hình, thông minh cộng thêm sự cần cù, tháo vát.
Ông nhớ như in từng địa danh khi xưa ông hoạt động. Hai cái hầm đầu tiên đào năm 1946 tại nhà ông Bảy Bộn ở Tích Phúc. Cái hầm đào cuối cùng vào tháng
5-1972 làm bằng cái lu đựng nước. Ông nói: "Thời đó đào hầm tôi tránh ba điểm: - dựa mé sông, giữa vườn và mé ruộng. Ðó là những điểm địch dễ phát hiện. Trường hợp đào trong nhà tránh gầm giường, trong hóc, trong kẹt. Tôi thường bố trí miệng hầm ở những nơi mà địch không ngờ tới".
Ông hiểu nhiệm vụ đào hầm tuyệt đối giữ bí mật nên không đi chơi nhiều, nói nhiều... Tháng 1-1947 ông được vinh dự đứng vào hàng ngũ Ðảng Cộng Sản Ðông Dương và được bầu Ủy viên Ban Chấp hành Thanh niên cứu quốc.
Qua hai cuộc kháng chiến, ông đào trên 270 cái hầm, cái lớn thì năm, sáu người ở, cái nhỏ hai người, nhưng hầm của ai người đó biết, tuyệt nhiên không dùng hầm chung với người khác. Ông nắm rõ lý lịch từng hầm, làm mật mã riêng và phân chia ra làm nhiều loại mật. Ông Ba lại là cán bộ dân vận giỏi, có bất trắc đều được bà con cho hay, nhờ vậy mà chưa một cái hầm nào bị phát hiện, bảo toàn tính mạng cán bộ lãnh đạo về công tác. Càng đào càng đam mê, hăng hái quên đi những gian lao cực nhọc, không nghĩ đêm khuya, muỗi mòng.
Từ 1946 đến 1972, ông Ba Ðại đã đào hầm qua nhiều khu cứ Tích Thiện, Thuận Thới, Hòa Bình (Trà Ôn, Vĩnh Long), An Phú Tân (Cầu Kè, Trà Vinh), Phụng Hiệp (Hậu Giang), Kế Sách (Sóc Trăng).
Ông Ba Ðại cười vui nói: "Mấy mươi năm đào hầm, nhưng chưa bao giờ được xuống hầm ẩn núp. Tôi làm sao yên tâm ẩn núp khi bên mình luôn mang trọng trách phải lo cho sự an nguy nhiều cán bộ".
Năm 1972, do bị thương ở tay, sức khỏe yếu, ông Ba Ðại xin ở lại Tích Thiện chăm sóc trông coi mộ liệt sĩ và làm công tác dân vận cho đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng.
Ngày đất nước thống nhất, trở về vui sống bên căn nhà bình dị cấp bốn, ông Ba Ðại vẫn lưu giữ danh sách hơn 220 cái hầm đào cho cán bộ trải dài từ Trà Vinh đến Sóc Trăng.
Niềm vui của cả một đời người là cống hiến sức mình cho đất nước, nhưng với ông Ba Ðại chỉ nghĩ đơn giản: "Hồi đó bị địa chủ, cường hào bóc lột, bà con sống đói khổ nên tôi góp phần nhỏ tham gia cách mạng giành lại chủ quyền. Nay được tự do làm chủ trên mảnh đất của mình, tôi sung sướng mãn nguyện lắm rồi, không còn ao ước gì hơn".
Bà Trần Thị Kim Nhung vợ của ông là cán bộ phụ nữ đã hơn 40 năm tuổi đảng, cùng nhau đứng trong hàng ngũ chiến đấu, chia sẻ bao ngọt bùi. Nay vợ chồng ông phơ phơ đầu bạc, vẫn sống bình dị trong căn nhà đơn sơ, ngày ngày vui cảnh ruộng vườn, dạy con cháu điều hay lẽ phải. Hiện nay ông còn lưu giữ chiếc tù và bằng sừng trâu đã một thời gắn bó cùng ông trong công tác. Bốn người con của hai ông bà tiếp nối theo gương cha mẹ, đều là cán bộ gương mẫu đang tích cực đóng góp sức mình xây dựng quê hương.