Chuyện cổ tích ở làng Ver

Vợ chồng ông bà Ayun Hới.
Vợ chồng ông bà Ayun Hới.

Chuyện tình của hai người "nhảy núi"

60 năm về trước, chàng trai Ê Ðê Ayun Hới căm thù giặc cướp nước và sớm giác ngộ cách mạng, đã tạm biệt bản làng cùng gia đình để "nhảy núi", vào rừng theo Bộ đội Cụ Hồ. Lúc đầu Ayun Hới làm giao liên, rồi được cầm súng trực tiếp chiến đấu. Ông nhớ lúc đó cái bụng mừng lắm, cứ thích đi chiến đấu hoài. Năm tháng chiến tranh đã tôi luyện Ayun Hới từ chiến sĩ giao liên đến năm 1968 trở thành cán bộ, không những dũng cảm trong chiến đấu mà tham gia huấn luyện cũng giỏi.

Trong một lần huấn luyện chiến sĩ mới, cô thiếu nữ tân binh Ymi người Gia Rai ở làng Ver, xã IaKo (Chư Sê, Gia Lai), đem lòng yêu thương và muốn "bắt" cán bộ Hới làm chồng. Ðôi mắt đen láy có hàng mi cong của Ymi lúc nào cũng hướng về Hới như cây rừng hướng về mặt trời. Cứ gặp nhau là ngại ngùng và vụng về khó tả. Cũng biết đó, nhưng lúc đầu Hới sợ lắm, vi phạm kỷ luật như chơi chứ đâu có dễ, mình là cán bộ mà. Tình yêu càng đẹp, càng toại nguyện khi đơn vị đứng ra tổ chức đám cưới cho họ thành vợ thành chồng.

Chiến trường nóng bỏng, đơn vị hết chuyển vị trí này lại đến vị trí khác. Còn Ayun Hới thì đi chiến đấu liên tục, vợ chồng cũng ít được gặp nhau và cũng chưa có dịp về thăm làng bản quê nhà. Sau ngày giải phóng, dân IaKo trở về nhận đất, lập làng. Vợ chồng Ayun Hới cũng xin đơn vị cho nghỉ phép vài ngày về thăm và "ra mắt"  bà con. Ông xót xa nhìn làng bản tan nát, bị cày xới vì bom đạn chiến tranh, nhưng đau khổ hơn là cha mẹ và nhiều người thân đã chết, số bà con còn lại thì đói khổ.

Ðêm  không ngủ được, nằm mà nghe cái bụng đau nhói. Vặn ngọn đèn dầu to hơn, Ayun Hới nói nhỏ chỉ đủ cho Ymi nghe: "Chiến tranh hết rồi, đất nước đã thống nhất, con chim tìm về rừng chọn cây làm tổ. Ymi ở nhà làm kinh tế, giúp đỡ bà con hết đói khổ, còn mình tiếp tục nhiệm vụ...".

Nghe chồng, Ymi trở về quê hăng say lao động, sản xuất và hướng dẫn bà con cách trồng lúa nước, trồng cây công nghiệp dài ngày, đan xen trồng các loại cây khác như cà-phê, tiêu và cao-su... để "lấy ngắn nuôi dài". Còn Ayun Hới thì cùng đơn vị lên đường làm nhiệm vụ quốc tế trên đất bạn Cam-pu-chia. Ðứa con đầu lòng lên hai tuổi, Hới mới được thấy mặt. Sau này vợ ông hai lần sinh con, nhưng vì sức yếu lại một mình vật lộn với bao khó khăn nên hai đứa nhỏ đã lần lượt về với Atâu (ông bà, tổ tiên). Và cũng trong thời gian làm nhiệm vụ quốc tế trên đất bạn, Ayun Hới bị thương, mất một mắt, được cấp trên cho trở về quê hương.

Ðàn con nuôi của Ayun Hới

Một sớm như mọi ngày, ăn tạm mấy củ mì (sắn), Ayun Hới dắt bò và vác cuốc đi làm. Vừa đến đầu làng Ðăk Bớt, không tin vào con mắt của mình nữa: dưới sàn nhà, bé Ðinh Siêk (người Ba Na) không một tấm vải che thân, nằm thoi thóp. Cha đứa  bé nhìn con trong tuyệt vọng. Thấy vậy, Ayun Hới cúi xuống bồng con bé lên tay, nhiều người ngăn cản. Bố đẻ của Ðinh Siêk sẵng giọng: "Mẹ nó chết rồi, cứ cho nó theo mẹ để bú (tục lệ làng này thế mà), anh đừng bế nó làm gì...". Hới nói: "Mày không muốn nuôi nó nữa thì để tao nuôi, để nó chết là có tội". Nói xong anh lấy áo của mình bọc lấy đứa trẻ rồi chạy một mạch về nhà. Thấy chồng đưa về một sinh linh bé nhỏ tím ngắt đầy những vết cắn của kiến, bọ chét, vợ ông hốt hoảng: "Anh mau đem trả lại cho mẹ nó nuôi, mình không cứu được nó là có tội lớn đó, em sợ lắm!".

Nhìn vợ đang lo lắng, Hới quả quyết: "Mẹ nó về với Atâu rồi, cha nó không nuôi được, thì mình cứu. Từ nay nó là con của mình rồi. Bà mau đun nước nóng tắm rửa cho nó, còn tôi ra quán mua sữa cho nó ăn". Căn nhà nhỏ hôm đó bận rộn hơn bởi có thêm một thành viên mới. Hàng xóm thấy lạ, đến xem đông kín, bàn ra, tán vào, mỗi người một ý. Mặc cho những lời bàn tán, đứa trẻ được tắm rửa sạch sẽ, mặc ấm, uống sữa, một lúc sau, da nó hồng hào trở lại. Vợ chồng ông thở phào nhẹ nhõm.

Hai năm sau, một hôm Ayun Hới từ rẫy tắt ngang qua lô cao-su về nhà. Bỗng từ bụi le bên đường có tiếng khóc ngằn ngặt của trẻ nhỏ, Ayun Hới tới nơi thấy có một chị người Kinh còn rất trẻ nằm mệt lả trên đám lá le khô. Thấy ông, chị ngơ ngác sợ hãi. Ông bảo: "Chị cứ nằm nghỉ, có cần giúp đỡ chi không?". Người phụ nữ gượng ngồi dậy, giọng yếu ớt: "Tôi tên là H, chưa có chồng nhưng trót dại mang bầu. Ðể mọi người khỏi dị nghị, tôi tới đây sinh cháu. Mong ông đừng nói với ai và xin ông làm phước nuôi cháu". Xong câu, H loạng choạng đi vào rừng cao-su, để lại cho Hới một bé sơ sinh còn đỏ hỏn. Ông bà đặt tên cho nó là Cu (cái tên mà người Kinh hay gọi thân mật lúc bé trai còn nhỏ).

Vợ chồng ông bà Ayun Hới.

Và cứ thế như một lẽ tự nhiên, sau này bao nhiêu đứa trẻ không cha, không mẹ, đủ các dân tộc như: Ê Ðê, Gia Rai, Ba Na, Kinh được mọi người giới thiệu, ông bà đến nhận, hoặc họ đem đến nhờ ông bà nuôi dùm. Ông nói vui với chúng tôi: "Âu cũng là số phận cả, mình có duyên với những đứa nhỏ "trời cho", cố gắng nuôi nấng sao cho chúng lớn lên thành đạt là mình toại nguyện".

Còn bà Ymi thì nói: Tôi hiểu cái bụng của chồng mình mà! Ông ấy cứ đem đứa nào về nhà là mình chăm, mình nuôi. Nhà có gì chúng ăn cái nấy, đứa nào lớn hơn thì làm anh và phải biết chăm sóc đứa nhỏ, đùm bọc, giúp đỡ nhau như anh em ruột thịt. Ðứa nào đến tuổi dựng vợ gả chồng, thì vợ chồng tôi đứng ra tổ chức cưới và cho nó nương rẫy để làm ăn, cho cái nhà để ở. Chúng nó hạnh phúc, no đủ là cái bụng mình sung sướng lắm! Thấy ông bà vui, tôi tranh thủ hỏi: "Tới giờ, ông bà nuôi được bao nhiêu đứa con "trời cho" rồi?".

Cười tươi như được mùa, cả hai vợ chồng Ayun Hới trả lời: Cứ một đứa thì bỏ một hòn cuội vào hũ để nhớ, đánh dấu ngày mình "sinh nó" và để làm kỷ niệm. Cũng được hơn hai chục hòn cuội rồi. Hiện nay vợ chồng mình còn nuôi bốn đứa, ơn Yàng chúng nó đều khỏe mạnh và khôn lớn. Những đứa có vợ, có chồng rồi, giúp đỡ nhau làm ăn, lúc gia đình có việc gì là tụ tập về đông vui như ngày hội... Nghe ông bà kể chuyện, tôi cứ nghĩ mình đang ở trong một "đại gia đình Việt Nam" thu nhỏ, dưới mái nhà của một thương binh.

Cuộc sống thường nhật của người thương binh

Ở xã IaKo ai cũng biết chuyện Ayun Hới và đàn con nuôi ngày càng khôn lớn, trưởng thành. Song ít ai biết được, để nuôi dạy những đứa con, vợ chồng ông đã vượt qua biết bao nhiêu khó khăn, gian khổ, bởi tất cả đều phụ thuộc vào sức khỏe và đôi bàn tay cần cù lao động của ông, cộng với hơn hai triệu đồng lương hưu ít ỏi của hai vợ chồng. 

Quanh năm, suốt tháng, trời nắng cũng như mưa, ông tần tảo lam lũ, lúc thì vào rừng phát rẫy trồng bắp, làm nương trồng sắn (hai loại cây mà theo ông là để hỗ trợ mùa giáp hạt, thêm chăn nuôi đàn gia súc, gia cầm ở nhà. Ông làm được hai ha, trung bình một vụ mùa thu hoạch được gần hai tấn). Khi thì ra vườn trồng và chăm bón cây hồ tiêu, cà-phê, mà công đoạn trồng và chăm bón cây cà-phê, hồ tiêu thật là công phu, tỉ mỉ, có lúc phải nằm lại cả ngày cả đêm ở vườn để theo dõi tưới nước, bón phân, tỉa cành...

Niềm vui, hạnh phúc của ông là công việc và sự khôn lớn của các con. Bọn nhỏ nó cứ ăn và lớn như củ khoai, củ sắn thì không có gì  phải nói, nhưng có những khi chúng đau ốm thì thật là khổ cực. Có lúc một hai giờ sáng đang ở rẫy, nghe con đau phải chạy về cõng con đi bệnh viện, thương con nên cái khổ, cái cực vượt qua hết. Ðến bây giờ, cơ ngơi của vợ chồng người thương binh Ayun Hới là một căn nhà gỗ nhỏ khoảng 40 m2. Năm 2002, các ban, ngành của tỉnh Gia Lai xây tặng ông thêm một ngôi nhà rộng chừng 20 m2 nữa.

Chị Sui Êng, một trong số con nuôi của Ayun Hới, tâm sự: "Khôn lớn, trưởng thành và có được cuộc sống như bây giờ, tôi cảm thấy công ơn ba mẹ tôi lớn lắm, như núi cao phía trước làng Ver. Không kể hết, nói hết được đâu".

Còn ông Rơmah Choát, Chủ tịch UBND xã IaKo thì nói với chúng tôi mà như đang "độc thoại" với chính mình: "Vợ chồng Ayun Hới tốt cái bụng quá. Nhờ vợ chồng nó mà trẻ nhỏ lang thang ở trong khu vực này nhiều đứa được cứu sống và được nuôi nấng, học hành đàng hoàng, trưởng thành... Lại còn giúp bà con trong làng biết làm ăn, ổn định cuộc sống. Bọn mình phải học tập nó nhiều nhiều".

Có thể bạn quan tâm