Hiện nay, thành quả dịch thuật và nghiên cứu của chúng tôi là cuốn sách “Kim Vân Kiều truyện” - dịch thuật và nghiên cứu đã ra mắt bạn đọc. Bằng cuốn sách này, chúng tôi xin trân trọng bày tỏ tình cảm tôn kính sâu sắc của một học giả Trung Quốc trước đại thi hào Nguyễn Du...
Trong quá trình dịch Truyện Kiều, là một dịch giả Trung Quốc, chúng tôi có rất nhiều trải nghiệm và nhận thức sâu sắc. Điều khiến chúng tôi cảm nhận sâu sắc nhất và vô cùng cảm phục là đại thi hào Việt Nam Nguyễn Du đã tạo dựng nên Truyện Kiều bằng tài năng thiên bẩm của mình. Với tư cách là một thi nhân ngoại quốc, thì sự trau dồi sâu sắc, tinh tế về văn hóa cùng tài năng nghệ thuật đúc rút táo bạo, đồng thời sử dụng hết sức tài tình nghệ thuật ngôn ngữ thi ca Trung Quốc của đại thi hào Nguyễn Du, càng đáng được cảm phục bội phần. Trong Truyện Kiều, việc đúc rút và vận dụng các nhân tố văn hóa của Nguyễn Du đã đạt tới ngưỡng xuất thần, văn chương điêu luyện đặt bút tuôn trào. Mở Truyện Kiều ra, chúng ta không khó để nhìn ra ngay một số những câu thành ngữ, điển cố xuất hiện khá dày đặc trong trường thiên thi tác lục bát của đại thi hào. Thậm chí có không ít câu thơ Trung Quốc hoàn chỉnh, chỉ với đôi nét chấm phá “cải tạo” tài tình độc đáo của thi hào, đã được chạm khắc nuột nà vào trong câu thơ lục bát.
Thí dụ: Câu 42 - 43:
Cỏ non xanh rợn chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Đây là phông cảnh thi tứ Nguyễn Du mượn của một câu thơ cổ Trung Quốc
Phương thảo liên thiên bích/Lê chi sổ điểm hoa, rồi khéo léo thêm vào một chữ trắng, mà càng làm nổi bật thêm vẻ đẹp thanh tao của hoa lê. Trong bản dịch tiếng Trung, chúng tôi xử lý câu thơ này thành Phương thảo thanh thanh liên thiên bích/ Lê hoa sổ điểm bạch y hy, khiến cho câu thơ của Nguyễn Du vừa giữ nguyên được phong cách vần luật đầy vẻ đẹp tao nhã của cổ thi, vừa làm cho hiệu quả nghệ thuật mang hơi thở và hương sắc nồng nàn của mùa xuân trong câu thơ được tăng lên một cách tự nhiên.
Một thí dụ khác, câu 2747-2748:
Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.
Ở đây, Nguyễn Du đã khéo léo mượn câu thơ trứ danh của Thôi Hộ, thi nhân đời Đường: "Nhân diện bất tri hà xứ khứ,/Đào hoa y cựu tiếu xuân phong", chỉ biến đổi "xuân phong" thành "đông phong" mà thành một câu thơ lục bát với tứ thơ mượt mà, trang nhã. Dịch sang tiếng Trung, câu thơ này như sau:
Tầm biến đình diện viện hậu vô nhân ảnh
Duy kiến đào hoa y cựu tiếu đông phong
Đọc câu thơ này, người Trung Quốc sẽ cảm nhận được một cách tự nhiên vần luật của câu thơ Thôi Hộ và câu thơ này cũng sẽ khiến người đọc Việt Nam càng thấm sâu cảm xúc với vẻ đẹp của vần thơ sống động như tranh. Có thể nói, câu thơ trên vừa có dáng dấp của Đường luật Trung Quốc, vừa thể hiện rất thành công bản sắc nghệ thuật thơ lục bát Việt Nam. Có những lúc chỉ mượn vài từ, Nguyễn Du cũng có thể sắp đặt chúng hợp lý đến mức hoàn hảo như mượn cả câu vậy.
Một điều hiếm có là, với những câu thơ, điển cố mà ngay cả người Trung Quốc cũng phải nhọc công tìm tòi, tra cứu thì Nguyễn Du cũng lại cần đâu có đấy, sử dụng hết sức tài tình. Chẳng hạn, ở phần cuối Truyện Kiều, có một tình tiết như sau: Kim Trọng khuyên Thúy Kiều đồng ý thực hiện lời thề hẹn xưa, kết duyên chồng vợ. Khi Thúy Kiều một mực không ưng thuận, Kim Trọng đã nói một câu thế này: “Có điều chi nữa mà ngờ,/Khách qua đường để hững hờ chàng Tiêu!”. “Chàng Tiêu” ở đây, dưới ngòi bút của Nguyễn Du, hiển nhiên là Kim Trọng đã tự ví mình là “Tiêu Lang”, nhân vật trong câu thơ của Thôi Giao - thi nhân nhà Đường: Hầu môn nhất nhập thâm như hải, Tòng thử Tiêu Lang thị lộ nhân, trong đó ẩn chứa một câu chuyện trắc trở đến nao lòng. Nguyễn Du quả là đã biết cách hòa quyện một cách tinh tế, hoàn hảo đến mức chuẩn xác và tự nhiên các nét tinh túy của văn học và văn hóa nước ngoài vào trong tuyệt tác thi ca lục bát của ông. Thiên tài ngôn ngữ bẩm sinh cùng với tài hoa nghệ thuật của đại thi hào thật đáng thán phục.
Đại thi hào Việt Nam Nguyễn Du đã tạo dựng nên Truyện Kiều bằng tài năng sáng tạo thiên bẩm của mình, tuyệt tác này xứng đáng được gọi là tác phẩm kinh điển của Việt Nam. Nguyễn Du không chỉ để lại cho dân tộc Việt Nam một di sản văn học quý giá, đã trở thành của cải văn học chung của nhân loại, mà đại thi hào cũng đã có cống hiến bất diệt cho sự giao lưu văn hóa giữa hai dân tộc Trung Hoa - Việt Nam!