Vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam rộng hơn một triệu ki lô mét vuông, gấp ba lần đất liền, với hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ phân bổ ven bờ và hai quần đảo ngoài khơi là Trường Sa và Hoàng Sa. Bờ biển dài trên 3.260 ki lô mét, đi qua các vùng tự nhiên khác nhau, nên biển có tính đa dạng sinh học rất cao, với 11.000 loài sinh vật biển và hơn 1.290 loài động thực vật sống trên các hòn đảo.
Sống trên đống bạc vẫn nghèo
Hỏi: Người Việt có câu “Rừng vàng biển bạc”. Vậy nhìn từ các hòn đảo, “biển bạc” ở đây được hiểu như thế nào, thưa ông?
Ông Nguyễn Chu Hồi: Theo tôi, mỗi hòn đảo là một “thỏi bạc”. Vì rằng, vùng biển quanh các đảo là nơi quy tụ hệ sinh thái rạn san hô và thảm cỏ biển có năng suất sinh học cao, cung cấp thức ăn và tạo nguồn giống hải sản cho cả vùng biển. Ngoài nguồn lợi hải sản, một số hòn đảo còn có lợi thế về vị trí địa lý để phát triển dịch vụ cảng biển, hàng hải. Nhiều hòn đảo, nhất là đảo đá vôi, có cảnh quan thiên nhiên rất đẹp; dưới mặt biển quanh đảo có các rạn san hô với cảnh quan hiếm thấy. Vì thế, tiềm năng phát triển các loại hình du lịch biển đảo, nhất là du lịch sinh thái, là rất lớn.
Có thể nói, chúng ta có một hệ thống các hòn đảo rất giàu tiềm năng mà nếu biết khai thác, sẽ phát triển thành các trung tâm kinh tế đảo.
Hỏi: Sống trên “đống bạc” như vậy nhưng người dân ở đảo vẫn còn rất nghèo khó. Phải chăng chúng ta chưa biết khai thác hiệu quả các tiềm năng từ hải đảo?
Ông Nguyễn Chu Hồi: Đúng vậy, chúng ta khai thác tiềm năng của hải đảo chủ yếu là đánh bắt hải sản, nhưng do thiếu chính sách, thiếu sự quản lý nên đã làm cạn kiệt nguồn lợi này. Rồi việc khai thác mang tính hủy diệt, chất thải trên biển... đã làm môi trường hải đảo ngày một xấu đi.
Số lượng loài hải sản có mức độ nguy cấp đưa vào Sách đỏ Việt Nam ngày càng tăng. Nghiên cứu của Viện Tài nguyên thế giới công bố năm 2002 cho thấy, 80% hệ sinh thái biển nằm trong tình trạng rủi ro, trong đó 50% là rủi ro cao. Các nhà khoa học cảnh báo, biển Việt Nam có nguy cơ trở thành thủy mạc, không còn tôm cá.
Trong khi đó, nguồn lợi hải sản là “chỗ dựa” của 20 triệu người dân sống ở các đảo và ven biển. Những năm gần đây kinh tế hải đảo có phát triển và đóng góp khoảng 13% tổng sản phẩm xã hội. Và như tôi đã nói, việc khai thác tiềm năng không đúng cách đang là nỗi lo cho sự phát triển bền vững. Đời sống của người dân ở đảo và vùng ven biển vẫn nằm trong cái vòng luẩn quẩn: nhu cầu sinh kế - khai thác quá mức - cạn kiệt nguồn lợi- nghèo khó…
Hỏi: Phải chăng chúng ta đang thiếu chính sách, thiếu sự quản lý trong việc khai thác hợp lý các tiềm năng của hải đảo, như du lịch hải đảo, dịch vụ vận tải biển, nuôi trồng hải sản, năng lượng gió, năng lượng thủy triều…?
Ông Nguyễn Chu Hồi: Chỉ thị 20, ngày 22-9-1997 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế biển có đặt vấn đề là cần quy hoạch và xây dựng chương trình phát triển kinh tế hải đảo, nhưng đến nay, ngoài chuyện khai thác khoáng sản, chúng ta vẫn chỉ khai thác hải đảo với cái đầu của anh nông dân.
Hiện nay, việc quản lý đảo ở cấp Trung ương cũng như địa phương đều theo kiểu… tư duy nông nghiệp. Người ta “bê nguyên” mô hình quản lý kinh tế - xã hội trong đất liền ra áp dụng cho ngư dân trên đảo trong khi không gian kinh tế biển đảo hoàn toàn khác không gian kinh tế trong đất liền.
Về mặt dân sự, chúng ta chưa có chính sách và biện pháp quản lý hải đảo phù hợp. Theo tôi, muốn có chính sách và biện pháp quản lý tốt, trước hết cần phải lập quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết. Vì biển và hệ thống đảo trải dài qua nhiều vùng tự nhiên nên thế mạnh của từng vùng biển, từng hòn đảo có khác nhau. Nếu các nhà quy hoạch, các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý biển đảo không tìm ra được tính đặc thù của từng hòn đảo thì khó có thể phát triển kinh tế hải đảo thành công.
Hỏi: Nói như ông thì kinh tế hải đảo đang phát triển tự phát?
Ông Nguyễn Chu Hồi: Kinh tế hải đảo tự phát theo nhu cầu mưu sinh của người dân chứ chưa có chiến lược rõ ràng của Nhà nước. Thực tế, người dân ra đảo “định cư” vì sinh kế, do đó, người ta thường có tâm lý “có cái gì khai thác cái đó” nên hiện tượng phá rừng trên đảo, khai thác hải sản quá mức… diễn ra khá phổ biến. Đảo Cát Bà từng có cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp nhưng bây giờ đã xuất hiện trên đảo một Hải Phòng thu nhỏ với những dãy nhà ống đơn điệu. Phát triển mà không có quy hoạch, không có sự quản lý tốt thì rất nguy hiểm.
Mở cửa để thoát nghèo
Hỏi: Như vậy, theo ông, nên quy hoạch theo hướng nào để kinh tế hải đảo phát triển bền vững?
Ông Nguyễn Chu Hồi: Trước hết, việc xác định thế mạnh của từng hòn đảo, từng vùng biển là hết sức quan trọng.
Chẳng hạn, những vùng biển có hệ sinh thái rạn san hô và thảm cỏ biển cần phải thành lập các khu bảo tồn để bảo vệ - vì nó là “ổ” sản sinh hải sản; những hòn đảo có cảnh quan thiên nhiên đẹp thì khai thác du lịch; những vùng biển êm thì lập khu nuôi trồng hải sản; những hòn đảo có vị trí chiến lược thì xây dựng cầu cảng, phát triển dịch vụ… Nói chung, quy hoạch là cụ thể nhưng phải được đặt trong một tổng thể.
Cần phải có tầm nhìn xa trong quy hoạch phát triển kinh tế hải đảo và phải nhìn cả ở góc độ địa kinh tế và địa chính trị. Chúng ta nên quy hoạch sử dụng các hòn đảo theo hướng: những hòn đảo nhỏ, đảo không có dân thì phát triển kinh tế đảo cần gắn với biển; những đảo lớn, đông dân như Côn Đảo, Phú Quốc, Cát Bà, Lý Sơn, Phú Quý... thì phát triển kinh tế đảo để làm bàn đạp cho đất liền trong giao lưu quốc tế.
Hỏi: Còn trước mắt, để kinh tế hải đảo phát triển, người dân ở đảo và vùng ven biển thoát nghèo, chúng ta nên làm gì?
Ông Nguyễn Chu Hồi: Cần nhanh chóng lập quy hoạch chi tiết việc sử dụng đảo, đưa ra những chính sách và biện pháp quản lý phù hợp. Phải xây dựng được chiến lược phát triển kinh tế hải đảo gắn với an ninh quốc phòng. Phải xác định đảo nào dành cho quốc phòng, đảo nào phát triển dân sự gắn với quốc phòng và đảo nào thuần về dân sự. Phải có chính sách riêng cho hệ thống đảo và từng hòn đảo; chính sách phải nhắm đến thu hút đầu tư, mở cửa cho cả nhà đầu tư nước ngoài, chứ như hiện nay muốn ra đảo đầu tư hết sức khó khăn vì chính quyền thích thì cho, không thích thì nói là không được phép đầu tư vì an ninh quốc phòng.
Hải đảo là cánh cửa của quốc gia. Nếu có chính sách mở cửa hợp lý, tôi nghĩ, chỉ sau một ít năm người dân sống ở các đảo và vùng ven biển sẽ bớt khổ. Kinh tế hải đảo phát triển sẽ góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng vững chắc.
Đề xuất quy hoạch 15 khu bảo tồn biển
Để bảo vệ các hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, rừng trên đảo, các loài sinh vật biển quý hiếm… tránh sự khai thác quá mức, đầu năm 2007, Bộ Thủy sản đã trình Chính phủ hồ sơ Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2010. Theo đó, 15 điểm đã được chọn đề xuất thành lập khu bảo tồn biển.
Khu bảo tồn biển Cát Bà (Hải Phòng)
Đảo Cát Bà được quy hoạch thành vườn quốc gia, diện tích đất đảo là 9.800 héc ta và phần biển rộng 10.900 héc ta. Khu bảo tồn bao gồm khu vực biển và các đảo nhỏ (137 đảo đá vôi lớn nhỏ) nằm ở phía Đông Nam đảo Cát Bà. Khảo sát sơ bộ phát hiện 1.140 loài động thực vật biển, 883 loài động thực vật trên cạn.
Khu bảo tồn biển Sơn Trà - Hải Vân (Thừa Thiên- Huế)
Khu bảo tồn Sơn Trà - Hải Vân có diện tích đất đảo là 4.974 héc ta và biển là 2.026 héc ta. Hệ sinh thái trên cạn ở đây có 382 loài thực vật, 35 loài thú, 57 loài chim, 13 loài bò sát và 8 loài lưỡng cư. Khu hệ sinh vật biển thì có 1.013 loài... Sơn Trà - Hải Vân được đề xuất trở thành khu bảo tồn loài sinh cảnh.
Khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang (Khánh Hòa)
Khu bảo tồn vịnh Nha Trang có diện tích khoảng 16.000 héc ta, gồm 3.000 héc ta đất đảo và 12.000 héc ta biển, trong đó có chín đảo lớn nhỏ. Tính đa dạng sinh học của khu vực này rất cao, có ba hệ sinh thái quan trọng là rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và rạn san hô. Đã tìm thấy ở đây trên 350 loài san hô tạo rạn, chiếm gần 45% số loài san hô tạo rạn trên toàn thế giới, trên 336 loài cá rạn, 339 loài da gai, 355 loài giáp xác, 490 loài thân mềm... Khu bảo tồn này được đề xuất trở thành vườn quốc gia.
Khu bảo tồn biển Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu)
Quần đảo Côn Đảo gồm 14 hòn đảo. Rừng bao phủ 80% diện tích các hòn đảo và có hệ động thực vật rất phong phú. Diện tích khu bảo tồn được đề xuất với phần đất đảo là 6.400 héc ta và 23.000 héc ta biển. Khu bảo tồn Côn Đảo được đề xuất trở thành khu bảo tồn vườn quốc gia.
Khu bảo tồn biển Đảo Trần (Quảng Ninh)
Đảo Trần được đề xuất quy hoạch thành khu dự trữ thiên nhiên thủy sinh, với diện tích đất đảo là 300 héc ta và biển là 3.900 héc ta. Quanh Đảo Trần có các hệ sinh thái rạn san hô và cỏ biển với hơn 485 loài sinh vật biển.
Khu bảo tồn biển Hòn Mê (Thanh Hóa)
Quần đảo Hòn Mê gồm đảo Hòn Mê và hơn 10 đảo nhỏ, diện tích được đề xuất bảo tồn là 500 héc ta đất đảo và 6.200 héc ta biển. Khu bảo tồn Hòn Mê sẽ là khu dự trữ thiên nhiên thủy sinh, với các rạn san hô ngầm phân bố rộng khắp vùng biển quanh đảo. Khảo sát sơ bộ đã phát hiện 440 loài sinh vật biển.
Khu bảo tồn biển Cù lao Chàm (Quảng Nam)
Quần đảo Cù lao Chàm gồm tám hòn đảo nhưng khu bảo tồn chỉ có Hòn Lao và vùng biển phía Tây của nó, với diện tích đất đảo là 1.544 héc ta và biển là 5.175 héc ta. Ở đây đã phát hiện 265 loài thực vật và một số loài động vật cạn như chim, rắn, chồn, khỉ, kỳ đà, tắc kè… Khu hệ sinh vật biển có 788 loài sinh vật. Cù lao Chàm được đề xuất trở thành khu dự trữ thiên nhiên thủy sinh.
Khu bảo tồn biển đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi)
Quần đảo Lý Sơn có 92 loài san hô, 45 loài động vật thân mềm, một số loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam. Diện tích khu bảo tồn này là 812 héc ta đất đảo và 7113 héc ta biển. Đảo Lý Sơn được đề xuất trở thành khu dự trữ thiên nhiên thủy sinh.
Khu bảo tồn biển Cô Tô (Quảng Ninh)
Quần đảo Cô Tô gồm 25 đảo nhỏ và ba đảo lớn, được đề xuất thành khu bảo tồn loài sinh vật cảnh, với diện tích đất đảo là 3.850 héc ta và biển là 4.000 héc ta. Quần đảo Cô Tô có hơn 675 loài sinh vật biển, 278 loài động thực vật trên các đảo.
Khu bảo tồn biển đảo Phú Quý (Bình Thuận)
Khu bảo tồn Phú Quý có diện tích dự kiến là 2.300 héc ta đất đảo và 6.680 héc ta biển. Giá trị đa dạng sinh học của khu bảo tồn này chưa được nghiên cứu chi tiết, tuy nhiên sơ bộ đã ghi nhận được 70 loài thực vật trên cạn, 72 loài tảo biển, 134 loài san hô cứng và 15 loài nhuyễn thể... Khu bảo tồn này được đề xuất trở thành khu dự trữ thiên nhiên thủy sản.
Khu bảo tồn Bạch Long Vỹ (Hải Phòng)
Khu bảo tồn Bạch Long Vỹ có phần đất đảo rộng 250 héc ta và phần biển rộng 89.750 héc ta, được quy hoạch là khu dự trữ thiên nhiên thủy sinh, với 1.112 loài động thực vật, trong đó có 996 loài sinh vật biển và 126 loài thực vật trên cạn. Mật độ rạn san hô bao phủ ở khu vực này rất cao (70-94%).
Khu bảo tồn biển Cồn Cỏ (Quảng Trị)
Diện tích khu bảo tồn Cồn Cỏ được đề xuất là 350 héc ta đất đảo và 2.140 héc ta biển. Đảo Cồn Cỏ có ba kiểu thảm thực vật chính là rừng thường xanh đất thấp, cây loại rậm và thảm cỏ, với 118 loài thực vật đã được ghi nhận trên đảo. Hệ sinh thái biển ở đây có 52 loài rong biển, 108 loài san hô cứng, 10 loài san hô mềm… tổng cộng có 546 loài sinh vật biển. Đảo Cồn Cỏ được đề xuất là khu bảo tồn loài sinh cảnh.
Khu bảo tồn biển Nam Yết, quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa)
Khu bảo tồn Nam Yết có diện tích đất đảo là 15.000 héc ta và biển là 20.000 héc ta. Hệ sinh thái rạn san hô đặc trưng ở đây là nơi sinh sản của hàng trăm loài sinh vật biển. Ở đây đã phát hiện 1.383 loài sinh vật biển, 19 loài thực vật trên cạn, 10 loài chim thú... Khu bảo tồn Nam Yết được đề xuất trở thàng khu bảo tồn loài sinh cảnh.
Khu bảo tồn đảo Phú Quốc (Kiên Giang)
Quần đảo Phú Quốc có 14 hòn đảo với hệ sinh thái chính là rạn san hô và thảm cỏ biển nên có tần suất sinh học rất cao. Khu bảo tồn này được quy hoạch gồm 14.957 héc ta đất đảo và 18.700 héc ta biển. Khu bảo tồn Phú Quốc được đề xuất trở thành khu dự trữ thiên nhiên thủy sinh.
Khu bảo tồn biển Hòn Cau (Bình Thuận)
Hòn Cau là hòn đảo thấp được cấu thành từ đá hoa cương. Khu bảo tồn được đề xuất có diện tích đất đảo là 110 héc ta và 12.390 héc ta biển. Các rạn san hô ở khu vực này còn giữ được tính nguyên thủy, với lớp phủ san hô dày trung bình 43%, có hàng trăm loài sinh vật biển cư trú. Khu bảo tồn Hòn Cau được đề xuất trở thành khu bảo tồn loài sinh cảnh.