Chữa bệnh lạm phát: Cẩn thận kẻo dùng nhầm thuốc

Hai loại lạm phát khác hẳn nhau đang tấn công nền kinh tế nước ta

Chỉ số giá (CPI) của nước ta đang chứa đựng hai nguyên nhân tăng giá khác nhau: Nguyên nhân thứ nhất là tăng giá do tiền giấy mất giá thuộc về lạm phát tiền tệ và nguyên nhân thứ hai là tăng giá do thiên tai và do khủng hoảng nguyên nhiên liệu truyền thống.

Nếu không nhận ra nhầm lẫn của giáo sư Samuelson cho rằng khủng hoảng nguyên nhiên liệu truyền thống (như cơn sốc dầu lửa và khoáng sản hiện nay) là lạm phát chi phí đẩy để phân biệt rõ hai nguyên nhân rất khác nhau này thì rất nhiều động thái kiềm chế giá trở nên rối tung lên như kiềm được giá lại có thể giảm tăng trưởng hay không trị được tác động tăng giá của lạm phát giá cả.

Nhầm lẫn của giáo sư Samuelson đã làm cho FED (Cục Dự trữ Liên bang Mỹ) tưởng rằng cứ dùng các công cụ của chính sách tiền tệ như khống chế tổng dư nợ các ngân hàng, nâng lãi suất tới 20%/năm là có thể chữa lạm phát chi phí đẩy điển hình của Mỹ thời kỳ 1973-1982. Ai dè đẩy nước Mỹ vào hai cuộc suy thoái mà chính giáo sư Samuelson gọi là “rợn tóc gáy” với kết quả là hơn 10 triệu người mất việc làm (10% lực lượng lao động và hơn 25.000 doanh nghiệp Mỹ phá sản.

Các nước hiểu ra nguyên nhân của hai cuộc suy thoái này nên đã dùng CPI trừ giá năng lượng và thực phẩm để tách lạm phát giá cả ra khỏi CPI. Vì thế CPI của họ chỉ đúng tỷ lệ lạm phát tiền tệ và thấp xa của ta.

Như năm 2004 lạm phát bình quân toàn cầu có 3,55% mà ta là 9,5%, năm 2005 con số tương ứng là 3,6% và 8,4%. Dùng CPI như vậy là tách lạm phát giá cả ra để chữa bằng phương thuốc khác, không chữa bằng sự can thiệp của Nhà nước như khi chữa trị lạm phát tiền tệ có thể can thiệp bằng tăng lãi suất, một công cụ có thể hãm và chặn đứng tốc độ mất giá của tiền giấy vì tăng lãi suất chính là mua tiền giấy với giá cao hơn giá trị đang tuột dốc của nó. Như năm 1989 ta nâng lãi suất âm quá nặng thời lạm phát phi mã thành lãi suất dương cao (7%/tháng gấp đôi CPI khi đó đã giảm còn hơn 3%/tháng), người dân xếp hàng gửi tiền vào ngân hàng và hợp tác xã tín dụng, biến tình hình bội chi triền miên trước đó thành bội thu tiền mặt chấm dứt hẳn lạm phát phi mã vào năm đó.

Các nước hiểu sốc giá dầu là cung nhỏ hơn cầu về dầu lửa, do quy luật kinh tế cung-cầu chi phối, chứ không phải do quy luật lưu thông tiền tệ chi phối, nên họ để cho thị trường tự giải quyết, nhà nước có chi ngân sách cũng là chi hỗ trợ chế sản xuất chất đốt sinh học thay thế cho dầu mỏ, chi xây dựng nhà máy điện hạt nhân thay nhà máy điện chạy bằng than đá...

Còn ở nước ta, Nhà nước đã chi ngân sách tới 27.000 tỷ đồng để bù lỗ cho Tổng công ty Xăng dầu, vì tin rằng qua đó có thể hạ được giá dầu trong nước. Nhưng làm như vậy, nguyên nhân của lạm phát giá cả vẫn chưa được khắc phục, mà tiền chi ngân sách lại "chảy" sang các nước qua dòng xăng buôn lậu qua biên giới.

Phân tích các giải pháp từ ngân sách nhà nước

Phương pháp hy sinh thuế để giảm giá

Hy sinh là để đạt mục tiêu mong muốn cho đất nước vì nếu không, hy sinh sẽ không còn ý nghĩa gì. Thuế sẽ mất ngay khi giảm nhưng nếu là thuế đánh vào nguyên liệu nhập sẽ phải chờ thời gian tiêu thụ hết số nguyên nhiên liệu cũ giá cao và thời gian để sản xuất ra sản phẩm đem bán. Những yếu tố làm trễ kết quả giảm giá đều có thể thấy rõ và tính toán thời gian trễ nên nói độ trễ chung chung là tự ta dựng một tấm màn che để đối tượng phải giảm giá dễ dấu những phương tiện kéo thời gian trễ bằng những công cụ kéo dài như thông đồng sửa lùi lại ngày ghi trên hoá đơn nhập.

Phương pháp bù giá

Bù giá theo tỷ lệ lạm phát tiền tệ là đương nhiên vì nhà nước có trách nhiệm quản lý tiền tệ phục vụ cho tăng trưởng kinh tế. Theo thống kê của ngân hàng nhà nước năm 2006 đã phát hành thêm tiền khoảng 180.000 tỷ (chỉ tính tổng phương tiện thanh toán bằng VND) hay thêm 33,59% nhưng CPI chỉ tăng có 6,6%, nghĩa là tiền tăng thêm 5,1% giá mới tăng 1% (33,59%/6,6%). Đó là nghệ thuật điều hành tiền tệ theo chính sách dùng lạm phát vừa phải để kích cầu.

Như vậy, Nhà nước có được một nguồn vốn “cực rẻ” vì chỉ là chi phí in tiền, để đầu tư vào các công trình tăng được GDP. Đạt được như vậy là nhờ tiến bộ khoa học phát triển vũ bão nên giá thành sản xuất công nghiệp và cả nông nghiệp hiện đại hoá giảm rất nhanh, năng suất tăng kéo theo sản lượng cũng tăng. Chúng ta đang chứng kiến giá điện thoại di động giảm từ 30% đến 50%/năm. Tivi, đồ điện tử cũng giảm giá mạnh.

Bù giá cho khủng hoảng nguyên nhiên liệu truyền thống là không đúng chức năng của ngân sách nhà nước và là việc làm biết trước là không kết quả. Vì không thể và không nên can thiệp vào cung cầu của khoáng sản, chả ai chứng minh được bù giá như vậy sẽ thay đổi được mất cân đối cung cầu về dầu lửa, về kim loại v.v… là nguyên nhiên liệu truyền thống, vốn đang hiếm dần trên trái đất. Không giám đốc doanh nghiệp nào tin là Bộ Tài chính có phép mầu hạ chi phí, do giá dầu, than đá … đẩy lên, thay cho họ để họ cứ rung đùi không phải vắt óc và bỏ vốn ra để tiết kiệm chi phí khác bù vào chi phí xăng dầu, để hợp tác với các viện nghiên cứu tìm ra nguyên nhiên liệu thay thế.

Đây là điều đã được kiếm chứng qua thực tế Việt Nam hai năm 2004 và 2005 và ở các nước đã sử dụng “giỏ” hàng hóa để điều tra định kỳ CPI, trong đó không có giá xăng dầu và khoáng sản.

Bù giá cho mặt hàng thực phẩm tăng giá do thiên tai, dịch bệnh có quá sức chịu đựng của ngân sách và có tràn lan không? Các nước đã trừ thực phẩm khỏi CPI là đã dùng khoản bù giá khác. Theo chúng tôi, không nên xếp khoản này vào bù giá mà nên ghi vào khoản trợ cấp thiên tai của ngân sách. Trợ cấp thiên tai sẽ dễ dàng ưu tiên cho người nghèo, thí dụ dịch bệnh cho gia súc gia cầm sẽ được trợ cấp cho doanh nghiệp để duy trì bữa ăn bảo đảm chất lượng như trước cho công nhân.

Phân tích những giải pháp của Ngân hàng Nhà nước

Các giải pháp rút bớt tiền từ lưu thông về bằng thị trường mở, nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc là sự đánh đổi tăng trưởng kinh tế lấy vài phần trăm bớt đi của tỷ lệ lạm phát mà trên thực tế ở nước ta lại chưa phân biệt rõ lạm phát tiền tệ và lạm phát giá cả.

Những giải pháp của Ngân hàng nhà nước, xét về khả năng chữa trị lạm phát là các công cụ của chính sách tiền tệ chuyên trị lạm phát tiền tệ nhưng vô hiệu cho việc chữa lạm phát giá cả vì GS Samuelson đã nhầm lẫn khi định nghĩa: “lạm phát là do giá cả chung tăng lên” như vậy là dồn lạm phát tiền tệ và lạm phát giá cả vào chung một rọ là “lạm phát” chung chung. Như thế là đảo lộn nhân quả: lấy kết quả của lạm phát tiền tệ là giá cả chung tăng lên (chứ không phải là CPI tăng lên) do tiền giấy mất giá làm nguyên nhân của lạm phát giá cả chả khác gì nói “mưa là nguyên nhân” của mây.

Thông tin mới đây về việc Ngân hàng nhà nước đã thu hồi 82% số tiền phát hành thêm ra lưu thông để mua 1 tỷ USD cho dự trữ ngoại hối. Rút bớt tiền lưu thông như vậy sẽ ảnh hưởng ngay đến tăng trưởng GDP. Thời kỳ 1999 - 2001, Ngân hàng nhà nước, vì nghe theo Ngân hàng chung châu Âu, khi đó nói rằng tỷ lệ lạm phát tối ưu là 4% nên đã rút bớt tỷ lệ lạm phát từ 6,26% của thời kỳ chính sách lạm phát kích cầu có hiệu quả nhất 1993- 1997 với mức tăng trưởng GDP bình quân tới 8,79% (năm 1995 lên tới 9,54%) như số liệu trong bảng sau:

Bảng 1. Lạm phát tiền tệ trong thời kỳ kích cầu có hiệu quả nhất

Năm 1993 1994 1995 1996 1997 Bình quân
Tiền: tỷ đồng 24.883 33.083 42.346 55.304 71.121  
% so năm trước (a) 31.45% 32.95% 28% 31% 28.60% 30.40%
Chỉ số giá (b) 5.20% 14.40% 3.60% 4.50% 3.60% 6.26%
Lợi hơn hại (a/b) 6.05 2.29 7.78 6.8 7.94 6.17
GDP: tỷ, giá 1994 164043 178534 195567 213833 231264  
% so với năm trước 8.08% 8.83% 9.54% 9.34% 8.15% 8.79%

Nguồn: Số liệu trong báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước

Do rút bớt tiền lưu thông từ mức phát hành thêm 30,4% xuống còn 24,77%, tỷ lệ tăng GDP giảm ngay xuống bình quân có 6,12% bằng 69,7% của thời kỳ kích cầu có hiệu quả cao. Như thế là trong điều hành tiền tệ không có độ trễ về ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế. Bảng 2 sau đây cho thấy năm 1999 GDP tăng có 4,77%.

Bảng 2. Lạm phát tiền tệ trong thời kỳ kích cầu có hiệu quả thấp nhất

  1999 2000 2001 Bình quân
Tiền: tỷ đồng 122000 152500 191100  
% so năm trước (a) 24.00% 25.00% 25.31% 24.77%
Chỉ số giá (b) 0.10% -0.60% 0.80% 0.10%
Lợi hơn hại (a/b) 240.00 -41.67 31.64 76.66
GDP: tỷ VND, giá 1994 256272 273582 292307  
% so với năm trước 4.77% 6.75% 6.84% 6.12%

Nguồn: Số liệu trong báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước

Rút bớt tiền lưu thông như trên tức là đã đánh đổi ngay tăng trưởng kinh tế lấy 5,6% bớt đi của lạm phát tiền tệ.  GDP năm 2005 là 837.858 tỷ đồng ( giá thực tế để quy ra USD) tương đương 52,4 tỷ USD giảm đi 2,56% GDP, tương đương với 1,34 tỷ USD, như vậy là đánh đổi 1,34 tỷ USD lấy 5.6% bớt đi của lạm phát tiền tệ.

Rút bớt tiền lưu thông không hề giảm chút nào lạm phát giá cả

Nguyên nhân của lạm phát giá cả là chi phí khoáng sản tăng lên và bị đầu cơ “tát nước theo mưa” - giảm cung để tăng giá bán. Rút bớt tiền lưu thông chỉ đụng chạm tới nguyên nhân sinh ra lạm phát tiền tệ và hoàn toàn không cải thiện được cung cầu khoáng sản (cụ thể là dầu mỏ).

Milton Friedman, nhà kinh tế có quan điểm trái với GS Samuelson đã viết câu nổi tiếng: “Lạm phát ở bất kỳ nơi nào luôn là một hiện tượng tiền tệ với nghĩa là, nó được và có thể được tạo ra chỉ bằng cách tăng lượng tiền nhanh hơn so với tăng sản lượng”. Vậy mà có tác giả bài báo đã trích dẫn nhầm là: Ở đâu và khi nào có lạm phát là có yếu tố tiền tệ (hay là thuộc chính sách tiền tệ). Như vậy là không thấy rõ có lạm phát giá cả bên cạnh lạm phát tiền tệ và nguy hiểm hơn là do cách tiếp cận đó làm cho các nhà hoạch định chính sách tiền tệ không quan tâm đến việc tìm ra đúng phương thuốc điều trị. Trong lịch sử đã xảy ra như vậy, Cục dự trữ Liên bang Mỹ đã dùng thuốc trị lạm phát tiền tệ để trị lạm phát giá cả và đã gây suy thoái rợn tóc gáy cho nước Mỹ. Trích dẫn như trên sẽ dẫn đến không thấy lạm phát giá cả đang song hành với lạm phát tiền tệ trên toàn cầu (trong đó có cả ở nước ta) và sẽ gây giảm tăng trưởng.

Vì những rối loạn như vậy trong việc chữa trị cả hai loại lạm phát đang song hành, chúng tôi thiết nghĩ, Chính phủ tổ chức hội thảo thực sự: có thời giờ thảo luận cho rõ thực trạng hai loại lạm phát đang cùng tấn công nền kinh tế-xã hội nước ta, cho rõ cách các nước đã làm để tránh cơn bão lạm phát giá cả, khi không có phương thuốc gì ngăn nó lại.

Có thể bạn quan tâm