Tôi có thói quen vào thời khắc chuyển mùa của những năm đáng ghi nhớ, giở lại biên niên tiểu sử hoặc toàn tập Hồ Chí Minh để tìm xem vào tháng năm này những năm xưa Bác Hồ của chúng ta đã làm gì, nói gì và viết gì.
Vào ngày đầu mùa đông năm Ất Dậu - 2005, giở lại những trang ghi chép vào mùa đông năm 1946 - một mùa đông khắc nghiệt, vận nước "ngàn cân treo sợi tóc", tình cờ giở tới trang in lại bài báo "Tìm người tài đức" đăng trên báo Cứu Quốc ngày 20-11-1946. Ðó là bài báo Bác viết sau hơn bốn tháng đi Pháp trở về và trước 29 ngày khi viết “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến”, mở đầu cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược và cũng là mở đầu thời kỳ chiến đấu gian khổ, hy sinh suốt 30 năm ròng cho tới chiến thắng mùa Xuân 1975, giành thắng lợi trọn vẹn, giải phóng miền nam, thống nhất đất nước.
Không biết đã bao nhiêu lần tôi đọc bài báo này, có đoạn gần như thuộc lòng, nhưng vẫn dừng lại để suy nghĩ khi toàn Ðảng và toàn dân đang thảo luận Dự thảo Văn kiện Ðại hội Ðảng lần thứ X nhấn mạnh "xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài", tiếp nối tư tưởng của Ðảng về bồi dưỡng, sử dụng nhân tài cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Với bài báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố công khai trên báo chí, một số nhà sử học gọi là "Chiếu cầu hiền thời kỳ cách mạng". Bài báo có đoạn:
"Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài, có đức.
E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận.
Nay muốn sửa đổi điều đó, và trọng dụng những kẻ hiền năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết...".
Bài đăng báo nhưng lại ký "Chủ tịch Chính phủ Việt Nam: Hồ Chí Minh" như một thư công. Thời kỳ mới, sẵn có báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng, cho nên công bố trên báo chí thì nhanh chóng và rộng rãi hơn việc niêm yết nơi công sở và sứ giả truyền loa của thuở trước. Cho nên, nhận xét của một số nhà sử học coi bài báo đó như "Chiếu cầu hiền thời cách mạng" có phần hợp lý.
Xưa nay triều đại nào cũng cần có người hiền tài giúp dân, giúp nước. Vua Lê Thánh Tông đã từng răn bảo Thái tử: "Dù là Thiên tử, con trời, đứng đầu trăm họ, có quyền uy tuyệt đối với thần dân, có quyền phong chức tước cho thần linh, các vị vua chúa các triều đại vẫn thấy rằng một mình không thể đảm đương được trọng trách, mà phải dựa vào dân, dựa vào nhân tài của đất nước.”
Tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám còn lưu giữ chữ của tiến sĩ Thân Nhân Trung khắc vào bia tiến sĩ số 1: "Hiền tài là nguyên khí quốc gia; nguyên khí vững thì nước mạnh và thịnh, nguyên khí kém thì thế nước yếu và suy".
Ông cha ta có nhiều phương sách chọn hiền tài, trong đó "Chiếu cầu hiền" là một phương sách truyền thống.
Truyền thống cầu hiền được để lại có lẽ bắt đầu từ đời Hùng Vương thứ VI sai sứ đi khắp nước cầu người hiền tài ra đánh giặc Ân xâm lược và Thánh Gióng vươn dậy thành người khổng lồ cưỡi ngựa sắt, nhổ tre đằng ngà đánh tan quân xâm lược.
Rồi lịch sử chép rằng, Lý Nhân Tông, Hồ Hán Thương xuống chiếu cầu người nói thẳng: Lý Cao Tông, Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông xuống chiếu cầu người tài giỏi, đạo đức ra giúp nước.
Chiếu cầu hiền của Lê Lợi năm Kỷ Dậu 1429 đã viết: "Người tài ở đời vốn không ít, mà cầu hiền tài không chỉ có một đường, hoặc người nào có tài kinh luân mà bị khuất ở hàng quan nhỏ, không ai tiến cử, cùng người hào kiệt náu ở nơi đồng nội, lẫn trong hàng binh lính... trẫm đâu biết được", phán rằng: "Phàm các quan liêu đều phải hết chức vụ, tiến cử hiền tài. Còn như các kẻ sĩ quê lận ở xóm làng cũng đừng lấy điều "đem ngọc bán rao" làm xấu hổ, mà để Trẫm phải than đời hiếm nhân tài". Nghĩa là các bậc minh quân đều mong những người có tài năng, đạo đức và thẳng thắn, trung thực ra giúp nước, bằng cả con đường tiến cử và tự tiến cử.
Người xưa đã nói: "Chỉ có người hiền mới cầu hiền". Thành tâm "cầu hiền" là một trong những phẩm chất của "người hiền" ở vị trí lãnh đạo và quản lý, cho nên người đời sau đã khắc lên mộ một vị Tổng thống của một nước: "Ðây là người tài dùng người tài"; đó là sự đánh giá rất cao về con người này ở cương vị lãnh đạo quốc gia.
"Người hiền" có thực tài thường rất tự trọng không bao giờ khúm núm xin xỏ, cho nên đọc các "Chiếu cầu hiền" của các vị minh quân có quyền uy "hét ra lửa" đều thấy một giọng khiêm tốn, lễ độ. Chiếu chỉ là các văn bản nhà vua công bố, ra lệnh, nhưng đọc một số "Chiếu cầu hiền" thì giọng văn là tha thiết, nhún nhường thể hiện sự tôn trọng người tài và mong được người tài ra giúp nước, giúp dân.
Chiếu khuyên dụ hào kiệt của Lê Thái Tổ viết: "Ta nhắc mình tỏ lòng thành thật khuyên các bậc hào kiệt đều nên cùng nhau gắng sức, cứu đỡ muôn dân, đừng có kín tiếng giấu tài khiến thiên hạ phải hãm trong lầm than mãi mãi".
Thư của người anh hùng Nguyễn Huệ lẫy lừng chiến công mời La Sơn Phu Tử ra giúp nước: "Quả đức sinh ở chỗ hẻo lánh, học ở sự nghe trông... đạo trị dân đã để có nhiều điều làm cứng cỏi, phiền nhiễu. Tuy là tội ở những người ấy, nhưng kỳ thật là giúp việc chửa, là tội quả đức chưa biết cầu hiền".
Chúa Trịnh Khương chỉ dụ: "Ngày từng mong nghe lời trung thực, khuyên bảo ân cần, lo mở rộng kiến văn để mở mang đạo trị. Từ xưa không ai mượn nhân tài đời khác, điều đó chỉ mong vào đời nay...".
Ðọc những chuyện kể, những ghi chép lịch sử thấy "cầu hiền" là một truyền thống tốt đẹp của các bậc minh quân. Thái độ, lời lẽ, và có thể ở cả tấm lòng như thế, nhưng có phải vị nào cũng trước sau như một!
Trở lại thời điểm xuất hiện bài báo "Tìm người tài đức" có thể hiểu bố cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các cấp, với quốc dân đồng bào để thấy một quan điểm sáng rõ, một tấm lòng trung thực và những việc làm thiết thực trong phương sách "cầu hiền", dùng người của Bác Hồ. Lúc đó, nhìn vào thành phần của Chính phủ lâm thời cũng như Chính phủ đầu tiên của nước nhà, những cán bộ cao cấp trong bộ máy Nhà nước, đã thấy có mặt những nhân tài kiệt xuất của quốc gia. Trong chuyến đi Pháp hơn bốn tháng tiếp xúc với bà con người Việt Nam ở Pháp, một số trí thức lớn người Việt Nam ở nước ngoài đã theo lời kêu gọi của Bác Hồ về nước giúp sức... Thế mà Người vẫn thấy chưa đủ, vẫn phải tiếp tục "cầu hiền".
Trong bài báo đó, cũng vẫn giọng khiêm tốn truyền thống, Người thừa nhận khuyết điểm vì "nghe không đến", "thấy không khắp" để "đến nỗi bậc tài đức không thể xuất thân". Nhưng điều quan trọng là không chỉ là lời nói, mà trong việc làm, Người là tiêu biểu cho sự thành tâm, tin dùng các bậc hiền tài. Con người có "tài to, tài nhỏ", có "chỗ hay, chỗ dở" như Người đã nói, cho nên "khéo" dùng thì sẽ quy tụ được mọi tài năng cho đất nước. Muốn thế cần có lòng bao dung.
Nhớ lại phát biểu ngày 5-9-1954 của Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ trong những ngày chuẩn bị tiếp quản Thủ đô sau khi chiến thắng kết thúc với chiến dịch Ðiện Biên Phủ, dặn dò thái độ của cán bộ trong việc dùng người, đối với người "không kháng chiến, những người dinh têH" cũng không khinh rẻ họ, mà phải giúp đỡ họ tiến bộ, để họ cùng làm việc, "phải dùng đúng năng lực của mọi người" vì "việc chung".
HỮU THỌ
.......................................
(*) Chỉ những người từ vùng tự do trong kháng chiến, vì lý do nào đó, lại quay trở lại vùng địch tạm chiếm.