Chiến thắng 30 - 4 nhìn từ nước Pháp

Những Việt kiều yêu nước

Ông Nguyễn Văn Bổn, nguyên Phó Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp là một trong những người hoạt động tích cực ủng hộ cuộc kháng chiến, chống Mỹ cứu nước. Sang Pháp du học, được chứng kiến những tội ác giết hại con người, huỷ diệt cuộc sống của đế quốc Mỹ qua chuyện kể của bạn bè, người thân, và qua các phương tiện thông tin đại chúng, người thanh niên Nguyễn Văn Bổn vô cùng căm phẫn. Cùng với các lưu học sinh, sinh viên, Việt kiều yêu nước ở Pháp, anh tập hợp bạn bè thành lập Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam tại Pháp.

Trong suốt quá trình diễn ra Hội nghị Paris, Hội liên hiệp thanh niên có nhiều đóng góp. Các thanh niên tâm huyết có trình độ tiếng Pháp giỏi, hoạt bát như anh Nguyễn Vĩnh Mỹ, Huỳnh Hữu Nghiệp, Lê Ủy, được phân công làm phiên dịch cho các đoàn trong tổ báo chí.

Ông Bổn kể: Hồi kháng chiến chống Mỹ, hoạt động của chúng tôi phải hoàn toàn giữ bí mật. Vì những phần tử phản động ủng hộ chính quyền Việt Nam Cộng hoà luôn tìm cách phá hoại phong trào. CIA cũng thuê lũ côn đồ gây bạo động hòng khủng bố tinh thần yêu nước của bà con Việt kiều. Mặc cho những hành động quá khích đó, các đoàn viên thanh niên trong Hội liên hiệp thanh niên vẫn tham gia nhiệt tình các buổi mít-tinh, nói chuyện về tình hình thời sự ở Việt Nam. Hồi ấy, để tổ chức một đoàn nghệ thuật từ Việt Nam sang Pháp biểu diễn quả không đơn giản chút nào. Mọi người phải đi sang Liên Xô, rồi từ đó mới đi sang Pháp. Chi phí cho một chuyến đi như vậy rất tốn kém. Chỉ có một lần vào năm 1969, đồng chí Huy Cận, lúc đó là Thứ trưởng Văn hoá, làm trưởng đoàn đưa hơn 70 nghệ sĩ Việt Nam sang châu Âu biểu diễn. Đoàn biểu diễn ở Pháp gần ba tháng. Từ sau đó, các thành viên Đội văn nghệ của Hội liên hiệp thanh niên chịu trách nhiệm làm các “tuyên truyền viên” đi biểu diễn ở Italy, Hà Lan, Bỉ để tuyên truyền, vận động bạn bè quốc tế ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Thông qua các buổi biểu diễn văn nghệ, các cuộc nói chuyện về tình hình chiến sự ở Việt Nam được lồng ghép, khán giả biết được những tội ác dã man của giặc Mỹ và hết lòng ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

Thông tin về chiến thắng lịch sử 30-4 đến thật bất ngờ. Ông Bổn bồi hồi nhớ lại: “Tối ngày 30-4, ban chấp hành đoàn thanh niên chúng tôi họp để bàn phương án đi biểu tình cho hôm sau 1-5, ngày Quốc tế lao động. Ngày này ở Pháp, người dân xuống đường rất đông. Bất ngờ, đang họp, một người bạn chạy đến thông báo là "Bộ đội giải phóng đã đánh chiếm dinh Độc Lập, miền nam hoàn toàn giải phóng. Đất nước thống nhất rồi!". Mọi người hò reo sung sướng vô ngần. Vậy là tất cả anh em chúng tôi phân công nhau tổ chức về các địa điểm in cờ, ảnh Bác Hồ, kịp sáng hôm sau đi đón chào chiến thắng. Suốt đêm ấy, mấy chục anh em học sinh, sinh viên Việt Nam không ngủ để in hàng nghìn chiếc cờ, ảnh Bác".

Tin chiến thắng nhanh như luồng điện. Sáng 1-5, hơn 500 nghìn người dân Pháp đổ xuống đường phố Paris diễu hành đón mừng chiến thắng 30-4. Paris hân hoan với chiến thắng của Việt Nam. Hoà cùng không khí rộn ràng đó, các học sinh, sinh viên Việt Nam phân phát cờ, ảnh Bác cho các bạn Pháp. Họ hiên ngang đi trên đường, hát vang bài Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Ông Bổn xúc động: “Suốt mấy chục năm trời, lần đầu tiên chúng tôi được cầm cờ đỏ sao vàng hiên ngang trên đường phố Paris. Trước đó, cảnh sát Pháp cấm các cuộc biểu tình, nhiều Việt kiều đã bị cảnh sát đánh đập, bắt bớ. Bọn tay sai, thù địch cũng luôn hành động đe doạ những người biểu tình yêu nước. Hôm đó, chúng tôi tự hào và sung sướng quá. Bọn thù địch tay sai tiu nghỉu chuồn mất trước sức mạnh khổng lồ của đoàn người khao khát hoà bình kia. Chúng tôi hát vang muốn đến vỡ tung lồng ngực. Câu nói mà người đi diễu hành hôm ấy nói nhiều nhất là Việt Nam, Hồ Chí Minh. Ngắm nhìn dòng người, da đen, da trắng cùng sát bên da vàng nắm tay nhau, tay giơ cờ đỏ sao vàng hát vang Việt Nam, Hồ Chí Minh, chúng tôi ai nấy nghẹn ngào.

Một trong những thành viên của Hội Việt kiều ở Pháp đóng góp công sức không nhỏ vào chiến thắng chung ấy, phải kể đến bác sĩ Therese Ký. Trong suốt Hội nghị Paris, bà Therese Ký đảm nhiệm công tác chăm lo sức khoẻ cho các cán bộ  của phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam, sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam. Do chi phí thuốc men ở Pháp rất đắt đỏ, nếu vào phòng khám, vào bệnh viện chữa trị, tiền thuốc, viện phí sẽ rất cao. Bà Therese Ký đứng lên vận động các bạn bè có hiệu thuốc,  phòng khám tư để khám chữa trị miễn phí cho các đại biểu của Việt Nam và giúp đỡ thuốc men khi cần thiết. Nhờ đó, sức khỏe của các cán bộ trong phái đoàn luôn được chăm lo đầy đủ. Sự quan tâm chu đáo của bà con Việt kiều ở nơi đất khách quê người với từng gói bánh, từng viên thuốc làm ấm lòng các cán bộ để họ vững vàng đấu tranh trên bàn hội nghị vượt qua biết bao khó khăn, vất vả cho tới ngày thắng lợi.

Người bạn Pháp tiến bộ

 

Nhà sử học Charles Fourniau

Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bạn bè quốc tế đã dành rất nhiều sự ủng hộ, giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần cho nhân dân Việt Nam. Nhà sử học người Pháp Charles Fourniau là một trong những người chứng kiến cuộc chiến tranh của Mỹ từ những ngày đầu. Để tìm hiểu Việt Nam, ông đã đến đất nước tươi đẹp này 18 lần. Trong chuyến đi Việt Nam lần thứ hai với tư cách phóng viên thường trú của báo l’Humanité, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp từ tháng 10-1963 đến tháng 7-1965, Charles Fourniau được chứng kiến những thảm cảnh của chiến tranh. Kỷ niệm sâu sắc đầu tiên của ông về chiến tranh Việt Nam là sự leo thang xâm lược của đế quốc Mỹ. Sau khi Mỹ gây ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ, tiến hành ném bom miền Bắc từ ngày 11-2-1965, bốn ngày sau, Charles Fourniau đã  cùng một số nhà báo quốc tế thường trú ở Hà Nội lúc ấy như báo của Đảng Cộng sản Đức, Liên Xô, Ba Lan đi xuống vĩ tuyến 17 nắm tình hình. Charles Fourniau nhớ lại: Khi chúng tôi đến thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, thì gặp ngay đợt ném bom của máy bay Mỹ. Người hướng dẫn đoàn đưa chúng tôi xuống hầm trú ẩn. Thế nhưng đưa chúng tôi xuống hầm an toàn xong, anh lại lên cửa hầm cầm súng sẵn sàng chiến đấu. Ấn tượng ấy đối với tôi thật là mãnh liệt. Vì đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến một trận ném bom. Chúng tôi ngồi trong hầm cứ lo cho anh hướng dẫn vì sợ anh gặp nhiều nguy hiểm. Còn anh vẫn hiên ngang đối đầu với các loại máy bay đang thi nhau cắt bom xuống thị xã tươi đẹp bên dòng sông Nhật Lệ này. Tôi rút ra được kết luận đầu tiên: Người Việt Nam rất anh hùng. Việt Nam sẵn sàng đánh lại đế quốc Mỹ tới cùng.

Ngay sau khi đợt ném bom kết thúc, chúng tôi đi thăm bệnh viện Đồng Hới. Bệnh viện bị dội bom tan hoang. Các phòng khám, chữa bệnh đổ nát. Trong sân bệnh viện, tôi phát hiện ra có những mảnh đồng nhỏ mà không biết là gì. Khi hỏi, mọi người nói rằng đó là mảnh bom bi còn sót lại. Tôi vẫn còn giữ lại một mảnh ở nhà làm kỷ niệm. Bom bi Mỹ không tàn phá cơ sở vật chất mà lại ném xuống bệnh viện. Nhận thức thứ hai trong chuyến đi đó của tôi là ngay từ đầu, ý định giết hại con người của Mỹ là hết sức rõ ràng.

Cũng trong  chuyến đi đó, chúng tôi được dự một buổi họp của người dân một xã bị ném bom. Đang họp, có tiếng xôn xao. Thì ra nhân dân ở đây bắt được  phi công Mỹ. Lúc sau, một chị dân quân cầm súng dẫn tên Mỹ cao lớn lênh khênh đến. Đó là Sumecker, một trong những phi công Mỹ đầu tiên ném bom miền Bắc bị bắt làm tù bình. Hình ảnh về người nữ dân quân Việt Nam nhỏ nhắn áp giải tên giặc Mỹ  đăng tải trên các báo ở Việt Nam và thế giới trở thành biểu tượng của tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam. Nhà thơ Tố Hữu đã có câu thơ rất hay về hình ảnh này:

O du kính nhỏ giương cao súng
Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu.

Điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là người dân Việt Nam không có cử chỉ bạo lực đối với Sumecker. Anh ta được đối xử tử tế. Qua đó tôi hiểu thêm rằng, người dân Việt Nam rất độ lượng và vị tha. Chính truyền thống dân tộc nghìn đời nay yêu chuộng hoà bình đã giúp cho nhân dân Việt Nam có cách cư xử văn hoá, mở lòng hiếu sinh, khiến kẻ thù phải cảm phục.

Ấn tượng trước những gì chứng kiến, trở về Hà Nội, tôi viết bài gửi ngay về báo L’Humanité. Bài bút ký Tôi chứng kiến cuộc ném bom ở Đồng Hới của tôi được đăng trang trọng trên tờ báo L'Humanité. Báo L'Humanité cũng là tờ báo đầu tiên ở Pháp phản ánh nhanh chóng và đầy đủ nhất về tình hình cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Ngay tháng 4-1965, tôi đã có bài viết nhan đề Đế quốc Mỹ nhất định thất bại trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Trong bài báo này, dựa trên những gì tai nghe mắt thấy, nhất là được chứng kiến tinh thần anh dũng tuyệt vời của nhân dân Việt Nam, tôi cảm nhận được rằng nhân dân Việt Nam sẽ không bao giờ chịu khuất phục, rằng Mỹ sẽ phải chịu thất bại thảm hại. Sau này, tôi được biết, khi gửi bài về, Ban biên tập báo L'Humanité đã thảo luận gần một ngày trời chung quanh bài viết của tôi. Mọi người bất ngờ vì cuộc chiến tranh leo thang của Mỹ ở miền Bắc vừa mới diễn ra. Với tiềm lực kinh tế, quân sự khổng lồ của Mỹ, việc tôi khẳng định thất bại báo trước của Mỹ thật khó thuyết phục. Nhưng cuối cùng các đồng chí lãnh đạo báo L'Humanité nhất trí đăng bài báo của tôi vì cho rằng: “Đồng chí Charles Fourniau thường trú ở Việt Nam nên đồng chí hiểu rõ tình hình hơn ai hết. Đồng chí có đầy đủ cứ liệu, thông tin xác thực nên mới viết vậy. Ta cứ đăng bài.” Ngay sau khi bài của tôi được đăng, nhà báo Jukev, bình luận viên mục Xã luận của báo Pravda, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Liên Xô, tỏ ý hoài nghi nhận định của tôi. Anh ấy cho rằng tiềm lực của Mỹ quá mạnh, việc đánh lại Mỹ là điều vô cùng khó khăn. Trong khi điều kiện trang bị vũ khí của Việt Nam còn quá thiếu thốn. Nhưng tôi vẫn vững tin vào quan điểm của mình. Thực tế cuối cùng đã chứng minh nhận định của tôi là chính xác.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các thông tin, bài báo do phóng viên thường trú của các báo của Đảng Cộng sản Pháp, Đức, Liên Xô đã đưa ra bức tranh chân thực về cuộc chiến. Những bài báo của các nhà báo Charles Fourniau, Maderlene Rifeau giúp độc giả Pháp tiếp cận với thực tế của cuộc chiến tranh. Cái nhìn đó khác hoàn toàn với những điều truyên truyền bịa đặt của hệ thống thông tin của Mỹ với những luận điệu, quan điểm phản động nhằm biện hộ cho  cuộc chiến tranh phi nghĩa của chúng. Những bài báo, cuốn sách của các nhà báo tiến bộ Pháp góp phần thức tỉnh lương tri của người dân Pháp, kêu gọi họ biểu tình phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, cùng nhau đứng lên ủng hộ Việt Nam, đất nước biểu tượng cho lương tri và phẩm giá của con người. Những nhân vật như Charles Fourniau, Maderlene Rifeau, Raymonde Dien, Henry Martin đã  dũng cảm đứng lên bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ tự do, bảo vệ quyền sống thiêng liêng của cả một dân tộc đang bị chà đạp.

Tin về chiến thắng 30-4 đến với Charles Fourniau trong hoàn cảnh đặc biệt. Khi ấy ông đang nghiên cứu hoàn thành đề tài về lịch sử Việt Nam ở thành phố Ex-en Provence, gần Marseille. Ông hồi tưởng: Sáng ngày 2-5, tôi đọc báo L'Humanité, được biết tin miền nam được giải phóng, Việt Nam đã thống nhất hoàn toàn, tôi sung sướng quá. Thế là chiến tranh ở Việt Nam đã kết thúc. Từng chứng kiến cuộc chiến tranh khốc liệt đó, tôi hiểu nỗi đau của chiến tranh thật khủng khiếp. Điều thứ hai mà tôi cảm nhận được là sự chia rẽ giữa hai miền nam bắc giờ đây đã chấm dứt. Không còn cảnh vợ lìa chồng, cha xa con, anh em trở thành kẻ thù của nhau như ngày xưa nữa. Đó là điều mà cho đến ngày nay vẫn  đang diễn ra giữa vĩ tuyến 38 ở bán đảo Triều Tiên. Ý nghĩa quan trọng bậc nhất là thắng lợi lịch sử của cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã  lên tiếng cáo chung cho sự hiếu chiến và tham vọng điên cuồng của  đế quốc Mỹ. Kể từ đây, nhân dân Việt Nam được sống trong hoà bình, thống nhất, độc lập và hạnh phúc. Đó là thành tựu vĩ đại sẽ còn được các sử gia nhắc đến rất nhiều trong tương lai.

Có thể bạn quan tâm